CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ PHỤC VỤ RA QUYẾT ĐỊNH NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò của kế toán quản trị a. Khái niệm kế toán quản trị Theo Ronaold W.
Hilton, Giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): “Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức mà các nhà quản trị dựa vào thông tin đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức”. Theo hiệp hội kế toán Mỹ, KTQT là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập bảng biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một DN, đảm bảo việc sử dụng hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này. Theo luật kế toán Việt Nam, KTQT được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật kế toán, Khoản 3, Điều 4). Tóm lại, có nhiều quan điểm và nhận thức về KTQT, đưa ra những khái niệm khác nhau, song các khái niệm đều có những điểm chung về KTQT là: - KTQT là một bộ phận trong hệ thống kế toán của đơn vị, cung cấp các thông tin định lượng; - Những người sử dụng thông tin là những đối tượng bên trong tổ chức, đơn vị; Luan van 10 - Mục đích sử dụng thông tin là để hoạch định, ra quyết định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức, đơn vị.
Vai trò kế toán quản trị Như chúng ta đã biết, để điều hành hoạt động kinh doanh, các nhà quản trị phải thông qua các chức năng quản lý cơ bản như hoạch định, tổ chức, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định. Còn KTQT sử dụng các phương pháp riêng của mình để phân tích, thiết kế, tổng hợp và truyền đạt thông tin phục vụ các chức năng quản trị. Qua đó thể hiện vai trò của KTQT: Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước, phương pháp thực hiện để đạt mục tiêu đó. Chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt, có tính hiệu lực và khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở thông tin phù hợp, hợp lý do bộ phận KTQT cung cấp.
Như vậy, KTQT cung cấp thông tin cần thiết (như các chỉ tiêu về số lượng, giá trị phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch, các chỉ tiêu này có tính quá khứ và tính dự báo) để các nhà quản lý đưa ra các quyết định ngắn hạn, dài hạn, đáp ứng mục tiêu của tổ chức. Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện Chức năng tổ chức thực hiện bao gồm thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạt thông tin của kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để thực hiện kế hoạch đó. Với chức năng này, các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các bộ phận, giữa các cá nhân nhằm huy động và kết hợp các nguồn lực sẵn có của DN lại với nhau để các mục tiêu đề ra được thực hiện với hiệu quả cao nhất. Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá Sau khi đã triển khai thực hiện kế hoạch, công việc kiểm tra, kiểm soát nhằm điều chỉnh và đánh giá có vị trí quan trọng.
Với chức năng kiểm tra và Luan van 11 đánh giá của quản trị, KTQT cung cấp các báo cáo hoạt động, xem xét giữa kết quả thực tế với dự toán đặt ra và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết hoặc các cơ hội cần khai thác. Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định Thông tin KTQT rất cần thiết cho quá trình ra quyết định. Đây là chức năng quan trọng, xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến khâu kiểm tra, đánh giá. Quá trình ra quyết định là việc xem xét, cân nhắc lựa chọn từ các phương án khác nhau để có phương án tối ưu với hiệu quả cao nhất và rủi ro nhỏ nhất.
Các thông tin sẵn có thường rất nhiều loại, với chức năng này KTQT giúp các nhà quản trị phân biệt được các thông tin thích hợp và không thích hợp nhằm xác định thông tin phù hợp cho từng phương án. Việc nhận diện thông tin phù hợp sẽ tập trung chú ý của nhà quản trị vào vấn đề chính cần giải quyết, giảm thời gian ra quyết định, đáp ứng yêu cầu của nhà quản trị trong tình huống cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường. Phân loại chi phí theo yêu cầu kế toán quản trị a. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động Chi phí phát sinh trong DN sản xuất, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ được chia thành hai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
Chi phí sản xuất: là những chi phí phát sinh trong hoạt động sản xuất sản phẩm, dịch vụ của DN. Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm các loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Luan van 12 - Chi phí nhân công trực tiếp: khoản mục này bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung: là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng, bao gồm: chi phí vật liệu phụ, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, khấu hao, sửa chữa máy móc thiết bị… Chi phí ngoài sản xuất: là những chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm. Các chi phí này liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn DN. Khoản chi phí này bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN. - Chi phí bán hàng: bao gồm các chi chí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm như chi phí vận chuyển, bao bì, khấu hao phương tiện vận chuyển, hoa hồng bán hàng, chi phí quảng cáo… - Chi phí quản lý DN: bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàn DN.
Khoản mục này bao gồm các chi phí: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý DN, khấu hao TSCĐ phục vụ cho quản lý… b. Phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí với báo cáo tài chính Khi xem xét cách tính toán và kết chuyển các loại chi phí để xác định lợi tức trong từng kỳ kế toán, chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm 2 loại: chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. Chi phí sản phẩm: bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua giai đoạn sản xuất. Tùy thuộc vào phương pháp tính giá thành mà chi phí sản phẩm có khác nhau.
Với phương pháp tính giá thành Luan van 13 toàn bộ, chi phí sản phẩm gồm các khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Chi phí thời kỳ: là những khoản chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳ, không tạo nên giá trị hàng tồn kho-tài sản, nên không được ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán, mà được kết chuyển để xác định kết quả kinh doanh ngay trong kỳ chúng phát sinh, có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ở kỳ phát sinh. Các khoản mục chi phí thời kỳ này được ghi nhận ở các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Phân loại theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán Theo tiêu thức phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm 2 loại: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí, được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu phí. Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau và không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí. Khoản chi phí này được phân bổ cho từng đối tượng theo tiêu thức phân bổ phù hợp. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động Trong DN sản xuất ta thường gặp các chỉ tiêu thể hiện mức độ hoạt động như: số lượng sản phẩm hoàn thành, số giờ máy hoạt động.
Theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, chi phí được phân thành: chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp Chi phí khả biến (Biến phí): là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ với các mức độ hoạt động. Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có hoạt động xảy ra. Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (hoặc giảm) tương ứng với sự tăng (hoặc giảm) của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay đổi. Luan van 14 Chi phí bất biến (Định phí): là những chi phí, xét về lý thuyết, không có sự thay đổi theo các mức độ hoạt động đạt được.
Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi nên khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại. Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của định phí và biến phí. Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến.