CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Giáo dục, đào tạo và phát triển năng lực của người lao động là nền tảng cho sự phát triển khoa học và công nghệ, kinh tế – xã hội, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển của một quốc gia và khả năng cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp. Giáo dục, đào tạo là cơ sở nền tảng trong sức mạnh của nước Anh trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất; là nguồn gốc thành công của Mỹ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai và là gốc rễ của các ưu thế của Nhật Bản trong cuộc cách mạng kỹ thuật cao cấp trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3. Nhu cầu đào tạo và phát triển nhân lực trong các tổ chức tăng nhanh cùng với sự phát triển của hợp tác và cạnh tranh quốc tế, công nghệ tiên tiến và những áp lực về kinh tế xã hội.
Đào tạo được xem như là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Hiện nay, chất lượng nhân viên đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp trên toàn thế giới. Thực tế đã chứng minh rằng đầu tư vào nguồn nhân lực có thể mang lại hiệu quả cao hơn hẳn só với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và các yếu tố khác của quá trình sản xuất, kinh doanh. Đó cũng chính là lý do vì sao các nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu kinh nghiệm của các nước phát triển (Nhật, Mỹ…) đều chú trọng hàng đầu đến công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực, vai trò, ý nghĩa. Khái niệm về nguồn nhân lực. Tổ chức được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nói cách khác là nguồn nhân lực của nó. Do đó, chúng ta có thể hiểu rằng nguồn nhân lực của một tổ chức hay doanh nghiệp là toàn bộ người lao động làm việc trong tổ chức hay doanh nghiệp đó.
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực. Chuyên ngành Quản trị kinh doanh 4 Luận văn Thạc sỹ Phùng Thùy Trang Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ y tế, chế độ làm việc, nghỉ ngơi. Trí lực chỉ khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người.
Trong quản lý và sử dụng con người, nếu khai thác về mặt thể lực của con người thì đến một thời điểm nào đó thể lực sẽ bị giảm sút và dần cạn kiệt. Nhưng nếu khai thác về mặt trí lực của con người thì trí lực chưa bao giờ cạn kiệt, đôi khi trí lực con người lại tăng lên thông qua sự vận động của trí óc. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực. Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản trị nguồn nhân lực (còn gọi là quản trị nguồn nhân lực, quản trị nhân sự, quản lý nguồn nhân lực).
Khái niệm quản trị nguồn nhân lực có thể được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau. Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị tổ chức thì quản trị nguồn nhân lực bao gồm việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức. Nếu tiếp cận theo chức năng quản lý con người thì có thể hiểu quản trị nguồn nhân lực là việc tuyển dụng nhân viên, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó. Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản trị nguồn nhân lực, nhưng chúng ta có thể khái quát lại: Quản trị nguồn nhân lực bao gồm hệ thống các triết lý, các chính sách và hoạt động chức năng về kế hoạch hoá nguồn nhân lực, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, kích thích, phát triển nguồn nhân lực.
nhằm thu hút con người tham gia vào quá trình lao động, bao gồm trong các quá trình trực tiếp, gián tiếp sản xuất để tạo ra các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả doanh nghiệp và cho cả người lao động. Như vậy, quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các doanh nghiệp ở tầm vi mô với hai mục tiêu cơ bản: Chuyên ngành Quản trị kinh doanh 5 Luận văn Thạc sỹ Phùng Thùy Trang - Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp. - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động, tạo điều kiện cho người lao động được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên tính tích cực của người lao động và lòng trung thành, tận tâm với doanh nghiệp. Quá trình phát triển của quản trị nguồn nhân lực.
Khởi đầu của vấn đề quản trị con người trong các tổ chức là quản trị nhân sự với việc chú trọng đơn thuần lên các vấn đề quản trị hành chính người lao động. Phòng nhân sự thường có vai trò mờ nhạt, thường chỉ thụ động giải quyết các vấn đề mang tính chất hành chính, sự vụ theo các qui định của doanh nghiệp hoặc theo yêu cầu của các lãnh đạo trực tuyến. Vấn đề cạnh tranh gay gắt trên thị trường cùng với sự chuyển đổi từ quá trình sản xuất công nghiệp theo lối cổ truyền sang quá trình sản xuất theo các công nghệ kỹ thuật hiện đại, những biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, việc làm và nhu cầu ngày càng nâng cao của người lao động đã tạo ra cách tiếp cận mới về quản trị con người trong các tổ chức, các doanh nghiệp. Vấn đề quản trị con người trong một doanh nghiệp không còn đơn thuần chỉ là vấn đề quản trị hành chính đối với người lao động.
Tầm quan trọng của việc phối hợp các chính sách và thực tiễn quản trị nguồn nhân lực được nhấn mạnh. Nhiệm vụ quản trị con người là nhiệm vụ của tất cả các nhà quản trị, nó không còn chỉ là nhiệm vụ đơn thuần của “Phòng nhân sự” hay “Phòng tổ chức lao động” trong các doanh nghiệp. Việc cần thiết phải đặt cho đúng người, đúng việc là phương tiện quan trọng nhằm phối hợp thực tiễn quản trị con người với mục tiêu phát triển của của doanh nghiệp. Thuật ngữ quản trị nguồn nhân lực dần dần được thay thế cho quản trị nhân sự, với quan điểm chủ đạo: con người không còn đơn thuần chỉ là một yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh mà còn là một nguồn tài sản quí báu của của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển từ việc tiết kiệm chi phí lao động để giảm giá thành sang chiến lược đầu tư vào nguồn nhân lực để tạo nên lợi thế cạnh tranh, nhằm mục tiêu lợi nhuận cao Chuyên ngành Quản trị kinh doanh 6 Luận văn Thạc sỹ Phùng Thùy Trang nhất. Từ quan điểm này, công tác quản trị nguồn nhân lực được phát triển trên cơ sở của các nguyên tắc chủ yếu: - Người lao động cần được đầu tư thoả đáng để phát triển các năng lực riêng nhằm thoả mãn các nhu cầu cá nhân, đồng thời cũng là cơ sở để tạo ra năng suất lao động và hiệu quả làm việc cao, đóng góp tốt nhất cho cho doanh nghiệp. - Các chế độ chính sách, chương trình và thực tiễn quản trị nguồn nhân lực cần được thiết lập và thực hiện đồng bộ, thống nhất sao cho có thể thoả mãn cả nhu cầu về vật chất lẫn nhu cầu về tinh thần của người lao động. - Môi trường và điều kiện làm việc cần được thiết lập sao cho có thể kích thích người lao động phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng của mình.
- Các chức năng nhân sự cần được thực hiện phối hợp và là một bộ phận quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cách tiếp cận quản trị nguồn nhân lực như vậy đòi hỏi cán bộ làm công tác quản trị nguồn nhân lực phải có trình độ hiểu biết tốt về tâm lý, xã hội, nghiên cứu hành vi, tổ chức, có kiến thức pháp luật và các nguyên tắc kinh doanh. Vai trò của các phòng, ban có liên quan đến công tác quản trị nguồn nhân lực tăng lên rõ rệt và trở thành một trong những phòng, ban có tầm quan trọng nhất trong mỗi doanh nghiệp. Đối với Việt Nam chúng ta, trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, việc nghiên cứu những vấn đề về quản trị con người trong doanh nghiệp được thực hiện thông qua các nội dung cơ bản của các môn học về: tổ chức lao động theo khoa học, định mức lao động và tiền lương….
đây là những bộ môn khoa học được phát triển nhằm vận dụng phương pháp quản trị của Taylor vào điều kiện các xí nghiệp xã hội chủ nghĩa. Khi đó, khu vực kinh tế tư nhân không có điều kiện phát triển, còn trong khu vực kinh tế quốc doanh, toàn bộ những chính sách nhân sự đều được thực hiện thống nhất theo các qui định và theo chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước. Thực tế quản trị nhân sự ở nước ta trong những năm của thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng tương tự như thực tiễn quản trị nhân sự ở các nước xã hội Chuyên ngành Quản trị kinh doanh 7 Luận văn Thạc sỹ Phùng Thùy Trang chủ nghĩa ở Đông Âu, ở Liên Xô cũ trước đây. Đó là thời kỳ của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, thiên về những mệnh lệnh hành chính, giấy tờ cứng nhắc.
Chế độ tuyển dụng suốt đời cùng với các chính sách phúc lợi xã hội khác như nhà ở, y tế cộng đồng, giáo dục miễn phí…. của Nhà nước đã mang lại sự an toàn xã hội lớn cho mọi người dân, đặc biệt là đối với các cán bộ, công nhân viên chức trong khu vực Nhà nước. Đào tạo và phát triển được thực hiện như một quyền lợi đương nhiên của người lao động nhằm phát triển nguồn nhân lực cho xã hội, mà không được coi đó là đầu tư cá nhân. Hệ thống tiền lương mang tính bình quân và dựa trên thâm niên, thể hiện sâu sắc triết lý xã hội chủ nghĩa “cùng làm, cùng hưởng” và “công bằng xã hội”.