Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao Chương 2: Phân tích công tác tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao tại Công ty TNHH May Tinh Lợi Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao tại Công ty TNHH May Tinh Lợi 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO 1. Nguồn nhân lực chất lƣợng cao 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Kinh tế học luôn đặt trọng tâm nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực là vấn đề được các học giả quan tâm, sôi nổi thảo luận trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, thời kỳ bùng nổ của khoa học công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức mà con người luôn ở vị trí trung tâm. Trong thời kì tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề nguồn nhân lực đang được coi là vấn đề trọng tâm.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”1, “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”2. Về khái niệm nguồn nhân lực (hay nguồn lực con người), có một số thuật ngữ khoa học: sức lao động, người lao động, lực lượng lao động, người lao động được sử dụng theo từng chuyên ngành khoa học và từng giai đoạn phát triển khác nhau.Mác đã chỉ rõ: sức lao động là “toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”3. Có nhiều cách tiếp cận thuật ngữ, tựu trung các nhà nghiên cứu kinh tế đều có một quan điểm, cách nhìn nhận tương đối thống nhất khi dùng khái niệm nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực được 1 Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.
2 Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.Awngghen: Toàn tập (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.251 7 hiểu là Nguồn + Nhân lực. - Trong xã hội, theo khái niệm rộng nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thế phát triển bình thường trong xã hội. Nguồn nhân lực, theo các khái niệm hẹp dần là khả năng lao động của xã hội, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này, nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động.
Nguồn nhân lực còn có thể được hiểu là tổng hợp những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động4. - Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực của mỗi còn người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thế, trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu, quan điểm, lòng tin, nhân cách của từng người5. Nguồn nhân lực của một tổ chức, theo học giả Trần Kim Dung, được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Mỗi người có năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển khác nhau6.Tất cả các tiềm năng nhân lực trong một hệ thống xã hội về sản xuất, hay nói cách khác, tất cả thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức. Sức mạnh của mỗi con người trong tập thể lao đong, tạo thành sức mạnh của tập thể đó, nhiểu tập thể lao động hợp thành một nguồn lực của tổ chức, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức kinh doanh đó. 4 Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Bộ môn kinh tế lao động, PGS.TS Phạm Viết Thành và PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên(1998), Giáo trình kinh tế lao động, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.35 5 Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Bộ môn Quản trị nhân lực, Ths.
Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2004), Giáo trình Quản trị nhân lực, Nxb Lao động- xã hội, Hà Nội. 6 Trần Kim Dung (2001), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.617 8 Tóm lại, có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con người nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động hiện tại và phát triển trong tương lai của một tổ chức. Khi quan tâm tới nguồn nhân lực của tổ chức, người ta không chỉ quan tâm tới việc tập hợp những con người trong tổ chức lại mà họ còn quan tâm tới tình trạng sức khỏe và trí tuệ những con người đó sẽ cống hiến cho tổ chức. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực chất lượng cao là một khái niệm khá mới mẻ, chưa được bàn luận nhiều trong nghiên cứu và thực tiễn.
Tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong các văn kiện của Đại hội Đảng đã đề cập đến các vấn đề “Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”7. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng thì lần đầu tiên nội dung “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” đã trở thành một quan điểm chỉ đạo thực hiện các giải pháp chủ yếu giải quyết các vấn đề văn hóa - xã hội và con người. - Tham khảo các tài liệu nghiên cứu gần đây cho thấy, các tác giả khi tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao đều thiên về cách nhìn nhận, chỉ ra những thành tố của nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong các hội thảo, các trang thông tin gần đây có nhiều ý kiến nói về nguồn nhân lực chất lượng cao.
Chẳng hạn, “Nguồn nhân lực chất lương cao trong thời kỳ CNH, HĐH là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhân lực khoa học công nghệ, là những người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên và nhóm công nhân kỹ thuật chất lượng cao”8. Trong bài “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”, ngày 25/04/2008, “Nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm nguồn nhân lực có trình 7 Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 8 Trang web đài truyền hình Hải Phòng tin ngày 21/04/2008, Hội thảo về đề án nguồn nhân lực chất lượng cao. 9 độ đại học, cao đẳng; nguồn nhân lực lãnh đạo quản lý và hoạch định chính sách, nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường Đại học, cao đẳng”9.
- Trong bài “Chính sách thu hút nhân tài ở Sài Gòn: Bài bản và chuyên nghiệp”, ngày 24/01/2008, tác giả Hà Minh viết “Đội ngũ lãnh đạo cấp cao là đội ngũ tạo ra năng suất vô cùng lớn, thành thạo về chuyên môn, kỹ thuật và có thái độ làm việc tích cực”10. Từ các khái niệm trên, rút ra: Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm thuộc phạm trù nguồn nhân lực, là khái niệm được phát triển theo khía cạnh nhấn mạnh, đề cao yếu tố chất lượng, và thuộc tính tri thức, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động. Đây cũng là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa lao động chất lượng cao và lao động giản đơn. Thực vậy, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và đòi hỏi bắt buộc của nền kinh tế tri thức, yếu tố chất lượng của nguồn nhân lực ngày càng trở nên quan trọng.
Trước hết là chất lượng phù hợp với điều kiện, môi trường của doanh nghiệp và của đất nước. Chất lượng của nguồn nhân lực là chất lượng toàn diện, chất lượng gắn với kết quả lao động. Nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu theo khía cạnh cơ cấu các nguồn nhân lực. Đó là sự phân phối, bố trí, hình thành các nguồn nhân lực theo những quy luật, những xu hướng tiến bộ trong các lĩnh vực hoạt động, các ngành kinh tế với mục đích sử dụng có hiệu quả cao các nguồn nhân lực cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế.
Sự đổi mới và phát triển của phân công lao động có quan hệ chặt chẽ với tiến bộ khoa học kỹ thuật thông qua hệ thống công cụ mà con người sử dụng. Mỗi tiến bộ khoa học kỹ thuật với sự thay đổi có tính chất đột phá của hệ thống công cụ sản xuất là cơ sở cho sự phát triển của phân công lao động. Quá trình hình thành các nguồn nhân lực theo hướng tiến bộ, tích cực, thực 9 Trang web www.vn tin ngày 25/04/2008, Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. 10 Trang web www.vn tin ngày 25/04/2008, Chính sách thu hút nhân tài ở Sài Gòn: Bài bản và chuyên nghiệp.
10 chất là sự đổi mới tình trạng phân công lao động xã hội lạc hậu sang phân công lao động xã hội ở trình độ cao, bắt kịp trình độ phân công lao động của các nước công nghiệp phát triển trên thế giới. Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao của một tổ chức bao gồm những người lao động có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp cao, được sử dụng trong vai trò hạt nhân nòng cốt, đầu tầu để duy trì hoạt động và thực hiện các mục tiêu phát triển của tổ chức.