Chương 1: Cơ sở lý luận về tiền lương và công tác tiền lương Chương 2: Phân tích thực trạng công tác tiền lương của khối trực tiếp sản xuất chương trình tại Ban Thanh thiếu niên Đài truyền hình Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tiền lương của khối trực tiếp sản xuất chương trình tại Ban Thanh thiếu niên - Đài Truyền hình Việt Nam. 7 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÔNG TÁC TIỀN LƯƠNG 1.1 Khái niệm, chức năng và các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương 1.1 Khái niệm và chức năng của tiền lương 1.1 Khái niệm về tiền lương Tiền lương có vai trò quan trọng đối với người lao động, đồng thời cũng là yếu tố thuộc chi phí sản xuất của người sử dụng lao động. Nói đến tiền lương, hiện nay có nhiều khái niệm. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động hiện hành1 thì “ Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận.
Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định”. Quy định của Bộ luật Lao động nghiêng về phía thị trường theo nguyên tắc thỏa thuận dựa trên năng lực của các bên khi tham gia thị trường lao động, tiền lương phải cao hơn mức lương sàn do Nhà nước quy định. Về ưu điểm, quy định này đã hướng TL theo nguyên tắc thị trường, được quyết định do cả hai bên.
Quy định này cũng chỉ ra kết cấu của tiền lương gồm mức lương theo công việc hoặc có thể là mức lương chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung. Trong thực tế, khái niệm về TL rất đa dạng ở các nước trên thế giới. Mác định nghĩa: “Tiền lương là giá cả của sức lao động, nhưng biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động” 2. Tổ chức lao động quốc tế (ILO)3: “ Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định 1 Được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 1/5/12013.
2 Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh. Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực. Nxb Kinh tế Quốc dân. 3 Tổ chức lao động Quốc tế (ILO).
Công ước số 19 (1949). 8 bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công nhân đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”. TL theo khái niệm của tổ chức ILO được xác định là sự trả công hay thu nhập (không quá coi trọng tên gọi hay cách tính) và phụ thuộc vào pháp luật mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì phần TL đôi khi chưa phải là phần lớn thu nhập của NLĐ, đôi khi phần lớn thu nhập của NLĐ lại có nguồn gốc từ tiền thưởng và các khoản thu nhập khác ngoài lương do vậy TL chưa thực sự làm đúng chức năng của nó.
Hai khái niệm thường đi kèm với TL là: Tiền lương danh nghĩa và Tiền lương thực tế. Mối quan hệ giữa TLDN và TLTT được thể hiện qua công thức: (trong đó: Itltt là chỉ số tiền lương thực tế; itldn là chỉ số TLDN; Igc là chỉ số giá cả)4. Một số khái niệm thường được dùng là tiền lương cấp bậc (chức vụ), tiền lương cơ bản và phụ cấp lương: - Tiền lương cấp bậc là số lượng tiền được quy định phụ thuộc vào cấp bậc (chức vụ) của NLĐ theo bảng lương quy định, không gồm các khoản trả thêm khác. Tiền lương cấp bậc bằng tiền lương tối thiểu nhân với hệ số lương tương ứng với cấp bậc (chức vụ).
- Tiền lương cơ bản bao gồm các khoản tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp lương. Tiền lương cơ bản thường được gọi là lương cứng. - Phụ cấp lương là những khoản tiền được bổ sung ngoài tiền lương cấp bậc hoặc tiền lương chức vụ, thường được quy định dưới dạng hệ số phụ cấp hoặc phần trăm tăng thêm so với tiền lương tối thiểu hoặc tiền lương cấp bậc (tiền lương chức vụ). Phụ cấp lương được trả khi một người phải hao phí sức lao động nhiều hơn do giữ một cương vị, hoặc làm việc trong điều kiện lao động không bình thường… 4 Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh.
Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực. Nxb Kinh tế Quốc dân. 9 Bên cạnh thuật ngữ về tiền lương, chúng ta còn hay bắt gặp thuật ngữ về tiền công. Và một thực tế là có rất nhiều người hay nhầm lẫn và đồng nhất giữa 2 khái niệm tiền lương và tiền công.
Thực tế, khái niệm tiền lương thường được dùng trong khu vực có yếu tố nhà nước (hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước), ngược lại tiền công thường được dùng trong khu vực doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).2 Chức năng tiền lương Tiền lương có vai trò quan trọng đối với người lao động và người sử dụng lao động thể hiện ở các chức năng của nó5. a) Chức năng thước đo giá trị Với vai trò là giá cả sức lao động, TL là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, vì thế TL phải là thước đo giá trị sức lao động, phản ánh giá trị sức lao động. b) Chức năng tái sản xuất sức lao động Tái sản xuất sức lao động là khôi phục lại sức lao động đã mất, thể hiện bằng việc ăn uống tích lũy sức lực, mua sắm các tư liệu sinh hoạt bằng tiền TL, do đó TL thực hiện chức năng tái sản xuất sức lao động. c) Chức năng kích thích sản xuất TL là đòn bẩy kích thích tăng năng suất lao động, cống hiến, phấn đấu của NLĐ.
Việc tổ chức sản xuất, trả lương hợp lý, công bằng làm NLĐ gắn bó với DN, người làm tốt được hưởng tương xứng với sức lao động bỏ ra. d) Chức năng tích lũy: TL của NLĐ được dùng để tái sản xuất sức lao động, chi tiêu cho sinh hoạt, đồng thời khoản TL này cũng được dùng để tích lũy. Với các chức năng trên, vai trò của tiền lương đối với người lao động, người sử dụng lao động và xã hội được thể hiện như sau: Đối với NLĐ: Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu, nuôi sống bản thân và gia đình NLĐ. Nếu NLĐ cảm thấy hài lòng với tiền lương của mình, khiến NLĐ tập 5 Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh.
Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực. Nxb Kinh tế Quốc dân. 10 trung tinh thần, ý chí vào việc sản xuất làm ra sản phẩm đảm bảo chất lượng, do đó tiền lương lúc đó sẽ có tác dụng khuyến khích tạo động lực lao động. Đối với doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động: tiền lương là chi phí cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp.
Đơn vị, tổ chức luôn muốn thu được lợi nhuận, do đó sẽ suy nghĩ, tính toán để có thể sử dụng tiền lương một cách hiệu quả nhất để một đồng tiền lương bỏ ra phải tạo ra giá trị thặng dư lớn hơn. Đối với xã hội: tiền lương đóng vai trò phân phối thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong xã hội. NLĐ có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư duy nhạy bén, có kinh nghiệm … thì tiền lương nhận được sẽ cao và ngược lại.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tiền lương TL chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, do đó các yếu tố tác động tới tiền lương được phân thành các nhóm như: yếu tố xã hội, chính sách của nhà nước; yếu tố của thị trường lao động; yếu tố thuộc về tổ chức NLĐ làm việc; yếu tố thuộc về bản thân NLĐ; yếu tố thuộc về công việc. - Yếu tố xã hội, chính sách của nhà nước: nhóm yếu tố này là các Nghị định, Thông tư, các văn bản hưởng hướng dẫn nghiệp vụ về lĩnh vực TL tác động đến đời sống của NLĐ như: quy định về lương tối thiểu vùng, quy định về thuế thu nhập….
- Yếu tố thị trường lao động: cung cầu trên thị trường lao động quyết định giá cả sức lao động, ảnh hướng tới TL của NLĐ. Cung lao động dồi dào hơn nhu cầu tuyển dụng, sử dụng lao động thì tiền lương giảm, ngược lại cung lao động khan hiếm so với nhu cầu tuyển dụng, sử dụng lao động thì tiền lương tăng. Hiện nay, trước tình hình suy thoái kinh tế mặt bằng TL đã giảm xuống. Mức lương thịnh hành trên thị trường là căn cứ để các DN tuyển dụng lao động, khi có những biến động của thị trường thì TL của NLĐ sẽ được điều chỉnh tương ứng thông qua cơ chế thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ.
Tuy nhiên, trong giai đoạn trước khi kinh tế chưa bị suy thoái, nhu cầu lao động tăng cao, TL của NLĐ vì thế được đẩy lên, nhất là một số ngành như chứng khoán, ngân hàng, tài chính. 11 - Yếu tố thuộc tổ chức ảnh hướng lớn đến TL của NLĐ, NLĐ trong DN dân doanh thì TL khá linh động theo quan hệ thị trường và chính sách đãi ngộ của từng DN. NLĐ trong các DNNN có lợi thế TL rất cao: Dầu khí, ngân hàng, viễn thông….cao hơn thị trường nhiều lần, ngược lại trong các DNNN không có yếu tố lợi thế, TL của NLĐ thậm chí thấp hơn mặt bằng thị trường: cà phê, lương thực, thủy sản… Trái lại NLĐ làm trong khối hành chính sự nghiệp, TL bị khống chế bởi hệ thống thang bảng lương, cơ chế trả lương do nhà nước quy định, chịu ràng buộc bởi ngân sách nhà nước nên tiền lương thấp, tăng chậm không bảo đảm đời sống công nhân viên chức. - Yếu tố thuộc bản thân NLĐ ảnh hưởng tới TL như: bằng cấp đào tạo, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tiềm năng phát triển trong tương lai của NLĐ; thâm niên công tác; mức độ thực hiện công việc.
Trong xu thế hiện nay, TL của NLĐ được đánh giá qua khả năng thực hiện công việc thông qua hệ thống đánh giá được xây dựng chi tiết, yếu tố thâm niên không được đánh giá cao như trước.