CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về tiền lương Tiền lương là một phạm trù kinh tế xã hội và được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chính vì vậy, có rất nhiều khái niệm cũng như cách hiểu về tiền lương.
Theo Nguyễn Tiệp và Lê Thanh Hà (2010) thì “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với quy định tiền lương của Pháp luật lao động”. Như vậy, tiền lương ở đây được coi là giá cả sức lao động và được phân phối theo năng lực, kết quả, hiệu quả lao động và được trả bằng tiền. Từ đây có thể thấy rằng tiền lương đã được coi trọng, được tính toán và quản lý chặt chẽ hơn, góp phần thúc đẩy người lao động phát triển. Dưới góc độ pháp lý, tại Điều 90 Bộ Luật lao động 2019 quy định: “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận.
Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định. Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau”.
11 Đỗ Thị Tươi và Đoàn Thị Yến (2021) cũng đưa ra khái niệm tiền lương như sau: “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động (hoặc đại diện của chủ sử dụng lao động) và người lao động, là số tiền mà chủ sử dụng lao động trả cho người lao động khi người lao động thực hiện một công việc nhất định và phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật”. Tiền lương theo quan điểm này được coi là giá cả sức lao động và được phân phối theo năng lực, kết quả, hiệu quả lao động và được trả bằng tiền. Như vậy, dù có nhiều cách diễn đạt về tiền lương, nhưng về cơ bản các quan điểm đều có chung bản chất về tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động căn cứ vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc và điều kiện lao động, được xác định theo sự thỏa thuận hợp pháp của hai bên, bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác và tiền lương không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Quy định này đã hướng tiền lương theo nguyên tắc thị trường được quyết định do thỏa thuận của cả hai bên và cũng là khái niệm tiền lương được tiếp cận trong đề tài này.
Khái niệm quy chế trả lương Quy chế là văn bản nêu các điều, khoản quy định thành chế độ hoạt động chung của tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp để các thành viên trong tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp thi hành, nhằm bảo đảm sự thống nhất hành động, tinh thần kỷ luật và mục tiêu cần đạt tới. Quy chế trả lương nằm trong bộ quy chế của mỗi doanh nghiệp, bảo đảm sự thống nhất trong phân phối tiền lương và thu nhập nằm đạt được hiệu quả công việc. Quy chế của các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan, đơn vị khác nhau thì chủ thể xây dựng quy chế, đối tượng triển khai thực hiện sẽ khác nhau. Tuy nhiên, dù quy chế được cơ quan, đơn vị nào xây dựng, thì vẫn phải 12 nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hành động và quyền dân chủ của các thành viên tham gia.
Đỗ Thị Tươi (2021) cho rằng quy chế trả lương là văn bản quy định những nội dung, nguyên tắc, phương pháp hình thành, sử dụng và phân phối quỹ tiền lương trong cơ quan, doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính công bằng và tạo động lực trong trả lương”. Hiện nay, tên gọi quy chế trả lương của các doanh nghiệp cũng có sự khác nhau. Một số doanh nghiệp gọi là quy chế phân phối tiền lương - thu nhập; một số doanh nghiệp khác gọi là quy chế trả lương của cơ quan; một số khác lại gọi là quy chế lương, thưởng và phúc lợi… Dù gọi theo tên nào thì bản chất quy chế trả lương của doanh nghiệp do chính doanh nghiệp đó tự xây dựng và được trình bày theo từng chương, mục, các điều khoản và từng điểm tiết tuân theo quy định của pháp luật hiện hành và chỉ có hiệu lực trong phạm vi quản lý của mình. Trong phạm vi luận văn, quy chế trả lương được hiểu một cách khái quát như sau: “Quy chế trả lương là văn bản quy định quy định nguồn hình thành, nguyên tắc trả lương, cách phân phối tiền lương,và thu nhập cho người lao động, phù hợp với quy định của pháp luật lao động và tính chất đặc thù của hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”.
Theo khái niệm này, luận văn sẽ không chỉ đề cập đến tiền lương mà còn đề cậ đến tiền thường vả các phúc lợi tài chính cho người lao động trong quy chế trả lương của doanh nghiệp. Nội dung cơ bản về quy chế trả lương tại doanh nghiệp Quy chế trả lương tại doanh nghiệp do doanh nghiệp xây dựng và ban hành. Do đó, doanh nghiệp tự quyết định về hình thức và nội dung của quy chế trả lương tùy thuộc vào quan điểm của người sử dụng lao động nhưng cần đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Do vậy, quy chế trả lương 13 của các doanh nghiệp có thể khác nhau về nội dung.
Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung của quy chế trả lương trong doanh nghiệp thường bao gồm: - Những quy định chung - Nguồn hình thành và sử dụng quỹ tiền lương - Phân phối tiền lương và thu nhập - Tổ chức thực hiện - Điều khoản thi hành Luận văn sẽ tập trung làm rõ 5 nội dung cơ bản đề cập ở trên theo các mục dưới đây. Những quy định chung Nội dung này thường bao gồm 2 nội dung chính là căn cứ xây dựng quy chế trả lương và nguyên tắc xây dựng quy chế trả lương. Căn cứ xây dựng quy chế trả lương Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau khi xây dựng quy chế trả lương thường dựa vào các căn cứ khác nhau, thường có các căn cứ: (1) Căn cứ pháp lý: các căn cứ này thường bao gồm: - Bộ luật Lao động hiện hành. - Các văn bản quy định về tiền lương do Chính phủ và các Bộ, ngành chức năng ban hành.
(2) Căn cứ thực tiễn: một số căn cứ có thể kể đến như là: - Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ chức và quản lý lao động và đáp ứng được nhu cầu phát triển của từng doanh nghiệp, cơ quan: Các đặc điểm tổ chức và quản lý lao động của doanh nghiệp, cơ quan có ảnh hưởng tới việc lựa chọn các nội dung của quy chế trả lương như: hình thức trả lương, phương pháp hình thành và phân phối quỹ tiền lương… 14 - Thỏa ước lao động tập thể đã được ký kết giữa người sử dụng lao động và Ban chấp hành Công đoàn: Các quy định trong quy chế trả lương phải không mâu thuẫn với các cam kết về tiền lương trong thỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp. Nguyên tắc trả lương Đối với mỗi doanh nghiệp khác nhau có thể đưa ra các bộ nguyên tắc khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu, quan điểm trả lương của doanh nghiệp. Nguyên tắc trả lương là cơ sở quan trọng để hình thành nên một quy chế trả lương khoa học, hiệu quả và phù hợp với điều kiện, đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để đảm bảo công bằng và trả lương gắn với giá trị hao phí sức lao động, kết quả thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của NLĐ thì quy chế trả lương của các doanh nghiệp được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau: - Đảm bảo phân phối theo lao động, trả lương phải gắn với năng suất, chất lượng và hiệu quả của từng người, từng bộ phận lao động.
Những người thực hiện các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ thuật cao… thì được trả lương cao hơn và ngược lại. Khắc phục tình trạng phân phối bình quân, không gắn với kết quả lao động. - Chống phân phối bình quân, hệ số giãn cách giữa người có tiền lương cao nhất và thấp nhất do công ty tự lựa chọn, quyết định phù hợp với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nguyên tắc này đảm bảo cho việc tránh xảy ra cào bằng tiền lương với các công việc khác nhau.
- Người lao động làm công việc gì, giữ chức vụ gì thì được hưởng lương theo công việc đó, chức vụ đó. - Làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, có trách nhiệm cao hơn được trả lương cao hơn khi làm các công việc trong điều kiện bình thường, ít trách nhiệm. 15 - Quỹ tiền lương được phân phối trực tiếp cho NLĐ làm việc trong công ty, không được sử dụng vào mục đích khác. Nguyên tắc này giúp cho các doanh nghiệp định hướng rõ trong việc xây dựng quỹ tiền lương, với mục đích chủ yếu là chi trả tiền lương cho NLĐ.
- Tiền lương và thu nhập hàng tháng của NLĐ được ghi vào sổ lương của doanh nghiệp theo quy định. Điều này giúp cho hoạt động tiền lương của doanh nghiệp được rõ ràng, minh bạch, tạo ra sự công bằng trong việc chi trả phân phối tiền lương. - Lãnh đạo doanh nghiệp phối hợp với tổ chức công đoàn cùng cấp để xây dựng quy chế trả lương. Quy chế trả lương được phổ biến công khai đến từng NLĐ trong doanh nghiệp và đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trước khi thực hiện.
- Lãnh đạo doanh nghiệp phối hợp với công đoàn cùng cấp để xây dựng quy chế trả lương. Quy chế cần phải được công khai đến từng lao động trong doanh nghiệp và báo cáo với cơ quan quản lý có thẩm quyền.