CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về công tác kiểm tra thuế GTGT 1.1 Khái niệm về kiểm tra thuế Trong giáo trình Quản lý thuế (2016) của HVTC, TS. Lê Xuân Trường cho rằng: “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra.” Kiểm tra thuế cùng với tuyên truyền hỗ trợ, kế toán thuế, thu nợ thuế tạo thành bốn chức năng quan trọng của quản lý thuế. Đứng trên góc độ nhà nước, nó là một công cụ giúp chống thất thu cho NSNN. Đứng trên góc độ của NNT thì công tác kiểm tra thuế là một công việc thể hiện quyền lực của CQT đối với những NNT.
Như vậy, có thể thấy, kiểm tra thuế là một hoạt động rất đặc thù, nó có một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, kiểm tra thuế có phạm vi rộng. Với các Chi cục thuế, đối tượng kiểm tra là tất cả các cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn quận (huyện). Với các Cục thuế thì phạm vi lại rộng hơn nữa, địa bàn kiểm tra là trên các tỉnh, thành phố. Ngoài ra, không chỉ các cá nhân, doanh nghiệp là đối tượng bị kiểm tra mà còn có các cuộc kiểm tra chính trong nội bộ ngành thuế.
Thứ hai, kiểm tra thuế là công việc có tính chất phức tạp, phải thực hiện thường xuyên vì nó phải trải qua rất nhiều các bước từ lên kế hoạch cho đến xin quyết định sau đó rồi mới được kiểm tra. Thứ ba, kiểm tra thuế còn là một công việc đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ kiểm tra. Là một cán bộ kiểm tra thuế cần có sự hiểu biết rõ về nhiều lĩnh vực như thuế, kế toán, luật…cùng các kĩ năng như phân tích, đánh giá, …thì mới có thể phát hiện ra các sai sót của NNT. Bên cạnh đó, vì đây là hoạt động tác động đến lợi ích của hai bên: đem lại nguồn thu cho NSNN nhưng 5 lại ảnh hưởng đến lợi ích của NNT nên các cán bộ kiểm tra thuế phải là người có đạo đức tốt, liêm chính Tóm lại, ta có thể hiểu một cách đơn giản rằng kiểm tra thuế là việc xem xét, đánh giá, kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế đối với đối tượng kiểm tra, nó có tác động trực tiếp đến kinh tế của hai bên: tăng nguồn thu cho nhà nước nhưng đồng thời lại làm giảm lợi ích của NNT.
Ngoài ra, kiểm tra thuế là một mắt xích vô cùng quan trọng góp phần giúp cho bộ máy quản lý thuế hoạt động trơn tru, hiệu quả.2Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế giá trị gia tăng 1.1 Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT trong tiếng Anh Value Added Tax viết tắt là VAT. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng vào năm 1954. Bắt nguồn từ nước Pháp nhưng thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu á.
Việt Nam ban hành Luật thuế GTGT năn 1997 và đã chính thức có hiệu lực từ 01/01/1999. Thuế GTGT là sắc thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu thông cho đến tiêu dùng. Tổng số thuế GTGT ở các giai đoạn luân chuyển đúng bằng giá bán sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Vì vậy tổng số thuế thu được của tất cả giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Như vậy, thuế GTGT được phát sinh đến khâu cuối cùng là tiêu dùng và người tiêu dùng sẽ là người chịu thuế và thuế GTGT có khả năng huy động được nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN. Từ khái niệm ở trên, ta xác định được người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam và các nhân, tổ chức nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mua từ nước ngoài chịu thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài) trừ 6 26 trường hợp là đối tượng không phải chịu thuế GTGT được quy định tại điều 4 của thông tư 129/2013 về hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT.2 Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa, dịch vụ nên có một số đặc điểm sau đây: Một là, thuế GTGT là một loại thuế gián thu bởi đây là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng mà đánh gián tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng thông qua hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, người nộp thuế GTGT là người bán hàng hóa, dịch vụ nhưng người tiêu dùng cuối cùng sẽ là người chịu thuế. Hai là, thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn nhưng không bị trùng lặp bởi thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ từ sản xuất, lưu thông cho đến tiêu dùng nhưng chỉ tính trên giá trị gia tăng thêm của mỗi giai đoạn luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ, bởi vậy, thuế GTGT không tính trùng phần giá trị gia tăng đã tính thuế ở giai đoạn luân chuyển trước khi tính thuế GTGT của giai đoạn sau.
Tổng số thuế GTGT ở các giai đoạn luân chuyển đúng bằng giá bán sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Ba là, thuế GTGT là sắc thuế có tính lũy thoái so với thu nhập. Do thuế GTGT tính trên giá bán của hàng hóa, dịch vụ mà người chịu thuế lại là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ không phân biệt người có thu nhập cao hay thu nhập thấp. Nên khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì tỷ lệ thuế giá trị gia tăng phải trả trong giá mua so với thu nhập của họ giảm đi, còn những người có thu nhập thấp thì ngược lại.
Bốn là, thuế GTGT thường được đánh theo nguyên tắc điểm đến. Theo đó, đối tượng đánh thuế GTGT căn cứ vào nơi cư trú của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà không dựa trên nguồn gốc tạo ra hàng hóa, dịch vụ. Quyền đánh thuế GTGT sẽ thuộc về quốc gia nơi có hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ, bất kể hàng hóa, dịch vụ đó được sản xuất ra ở đâu. Năm là, thuế GTGT có phạm vi điều tiết rộng bởi vì thuế GTGT là loại thuế tiêu dùng thông thường đánh vào hầu hết các hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống con 7 người.
Ở Việt Nam, số lượng các hàng hóa, dịch vụ thuộc diện miễn thuế GTGT thì thường rất ít. Vì vậy mà mọi tổ chức, các nhân đều phải chịu loại thuế này. Sáu là, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao vì thuế GTGT chỉ là khoản tiền cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa dịch vụ do đó nó không làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, nó không phải là yếu tố chi phí. Vì vậy, thuế GTGT không tác động đến việc mở rộng hay thu hẹp sản xuất sản phẩm của người cung cấp.3 Vai trò của thuế giá trị gia tăng a, Trong lưu thông hàng hóa -Theo thuế doanh thu trước đây nhà nước sẽ đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh của sản phẩm thông qua mỗi lần chuyển dịch từ sản xuất → lưu thông → tiêu thụ sản phẩm.
Việc đánh thuế như vậy gây ra tình trạng thu thuế trùng lặp tức là thuế đã thu ở giai đoạn trước nhưng những giai đoạn sau vẫn tiếp tục thu tiếp phần thuế đã thu ở giai đoạn trước. Điều này rất bất hợp lý, gây cản trở cho việc sản xuất, lưu thông hàng hóa. Tuy nhiên với sự ra đời của thuế GTGT thay cho thuế doanh thu đã giúp tránh được tình trạng đánh chồng thuế. -Thuế GTGT không phải là một nhân tố gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá mà ngược lại việc áp dụng thuế GTGT giúp góp phần ổn định giá cả, làm cho giá cả hàng hóa dịch vụ trở nên hợp lý hơn từ đó tạo điều kiện mở rộng lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy phát triển khâu sản xuất hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu.
b, Trong việc quản lý kinh tế của nhà nước -Thuế GTGT đánh vào hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống của con người, mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu loại thuế này mỗi khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nên thuế GTGT tạo ra nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN. -Thuế GTGT tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không cần phải đi sâu vào việc xem xét, phân tích tính hợp lý của các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu. 8 -Tăng thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực trong việc bảo hộ nền sản xuất kinh doanh trong nước. -Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính thuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ.
-Việc được khấu trừ thuế GTGT đầu vào nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định đã khuyến khích các doanh nghiệp hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.3 Căn cứ tính thuế tính thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT được tính dựa trên hai căn cứ đó là giá tính thuế và thuế suất. Đây là hai yếu tố cơ bản khi xác định số thuế GTGT theo từng phương pháp nhất định.1 Giá tính thuế giá trị gia tăng a, Xác định giá tính thuế giá trị gia tăng Giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hóa nhập khẩu.