phần mở đầu và kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa Vang. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa Vang. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Trong những năm qua, việc nghiên cứu để hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu dƣới các giác độ, khía cạnh, lĩnh vực tiếp cận khác nhau.
Ở một số nghiên cứu trƣớc đây về hoàn thiện công tác kế toán, các tác giả chủ yếu đề cập đến nguyên lý và nguyên tắc chung về tổ chức kế toán ở một số loại hình doanh nghiệp đặc thù. Riêng lĩnh vực nghiên cứu hoàn thiện công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp thì chỉ có một số ít tác giả nghiên cứu, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế. 5 Trong lĩnh vực y tế, luận văn thạc sỹ của tác giả Đoàn Nguyên Hồng (2010) với đề tài: "Hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới”[14] đã tiến hành phân tích đánh giá về công tác kế toán, quản lý tài chính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới. Tác giả đã nhận diện những mặt hạn chế về vận dụng và sử dụng chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản và sổ kế toán, thời gian lập báo cáo còn chậm.
Tác giả đã đề ra các giải pháp chủ yếu liên quan đến vấn đề quản lý tài chính và định hƣớng phát triển của hoạt động tổ chức kế toán. Một đề tài khác với tên gọi: “Hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện Mắt – Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Hồ Thị Nhƣ Minh (2014)[15] cũng mang đến nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu hoạt động tài chính kế toán trong lĩnh vực y tế. Đề tài đã nêu rõ đƣợc đặc điểm công tác tổ chức kế toán và cơ chế quản lý tài chính của Bệnh viện. Bên cạnh những ƣu điểm cơ bản đã đạt đƣợc, công tác kế toán ở Bệnh viện còn tồn tại những hạn chế: việc lập chấp hành dự toán chƣa đồng bộ, thuyết minh một số khoản chi chƣa rõ ràng, khai thác các nguồn ngoài NSNN còn bất cập, chứng từ lƣu trữ chƣa khoa học, chƣa mang tính kịp thời và khách quan.
Đề tài chú trọng nhiều đến việc tổ chức công tác kế toán tại bệnh viện để đáp ứng cung cấp thông tin theo quy định của Luật kế toán nhƣng chƣa đi sâu phân tích về tổ chức công tác kế toán phục vụ quản trị nội bộ bệnh viện đáp ứng cho mục tiêu và sự phát triển lâu dài của bệnh viện. Luận văn thạc sỹ về “Tăng cƣờng quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dƣơng” của tác giả Đỗ Thị Thành (2015)[17] đã có những đóng góp trong việc nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính, củng cố phƣơng thức chi trả BHYT, quản lý nguồn thu Bệnh viện tốt hơn. Tác giả nghiên cứu sâu vào việc quản lý tài chính nhƣng chƣa có những đánh giá chi tiết về việc phân cấp quản lý và 6 trách nhiệm cho các bộ phận, những giải pháp tăng cƣờng quản lý tài chính đảm bảo cơ chế tự chủ. Luận văn của tác giả Dƣơng Thị Yến Nhi (2016) về “ Hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Đăk Lăk”[16] cũng đã đƣa ra những giải pháp hoàn thiện tổ chức chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, công tác kiểm tra kế toán nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế tài chính của đơn vị.
Tuy nhiên tác giả cũng chƣa nghiên cứu công tác tổ chức kế toán tại các phần hành cụ thể để từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc quản lý và điều hành bệnh viện và cho quản lý nhà nƣớc. Luận văn của tác giả Bùi Mỹ Lý (2016) về “ Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Đà Nẵng” [13] đã đƣa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lập dự toán và sử dụng kinh phí, một số giải pháp tăng thu, tiết kiệm chi, một số giải pháp phục vụ cho việc tự chủ và quản trị tại đơn vị. Các luận văn trên đều đƣa ra các vấn đề và giải quyết câu hỏi nghiên cứu theo đặc điểm hoạt động của đơn vị. Tuy nhiên, với số lƣợng nghiên cứu về các đơn vị công lập trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là các đề tài về các bệnh viện công còn hạn chế thì việc nghiên cứu thực trạng công tác kế toán tại các bệnh viện công lập để tìm ra các giải pháp hoàn thiện đặt ra ngày càng lớn.
Ngoài các vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp, đề tài tập trung thêm vào cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp trong điều kiện tự chủ về tài chính và công tác kế toán tại một số phần hành chủ yếu. Bên cạnh đó, chƣa có công trình nào nghiên cứu về hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa Vang trong điều kiện đơn vị đang triển khai thực hiện Nghị định 43[7] và sắp đến hƣớng theo lộ trình thực hiện Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị SNCL[9]. 7 Xuất phát từ quá trình tìm hiểu đề tài đồng thời dựa trên cơ sở pháp lý là các quy định Nhà nƣớc về công tác kế toán hành chính sự nghiệp nhƣ Luật NSNN, Luật kế toán, Chế độ kế toán HCSN, Các Nghị định, Thông tƣ, Quyết định và các tài liệu nghiên cứu có liên quan và tình hình thực tế tại đơn vị, tác giả đã thực hiện đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa Huyện Hòa Vang”. Luận văn sẽ có những đóng góp thực tiễn về công tác kế toán tại bệnh viện Đa khoa huyện Hòa Vang nhƣ hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, công tác kế toán ở các phần hành chủ yếu.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. K á n ệm và p ân loạ đơn vị sự ng ệp ông lập a. Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập Nhà nƣớc thiết lập hệ thống đơn vị sự nghiệp để đảm nhận nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực, trong đó, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao chiếm số lƣợng lớn.
Đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc xác định là bộ phận cấu thành bộ máy cơ quan nhà nƣớc và chịu sự quản lý nhà nƣớc cả về tổ chức cũng nhƣ hoạt động. Tại Khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức (Số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 của Quốc Hội) quy định, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc. Nhƣ vậy, đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc nhận diện thông qua các yếu tố sau đây: - Đƣợc thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; - Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Có tƣ cách pháp nhân; - Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc; - Viên chức là lực lƣợng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Đặc trƣng của đơn vị sự nghiệp để phân biệt với cơ quan hành chính 9 nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức.
Các đơn vị sự nghiệp đƣợc các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nƣớc nhƣng không mang quyền lực nhà nƣớc, không có chức năng quản lý nhà nƣớc nhƣ: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính b. Phân loại đơn vị sự nghiệp Các đơn vị sự nghiệp công lập không chỉ đông đảo về số lƣợng, mà còn đa dạng về loại hình, lĩnh vực hoạt động. Do vậy, việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập rất phức tạp tùy theo tiêu chí phân loại. * Theo cơ chế tự chủ tài chính: Tiêu chí mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP chia đơn vị sự nghiệp công lập thành hai loại: - Đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên.
- Đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên. Tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập, xác định 3 loại đơn vị sự nghiệp công lập gồm: + Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên; + Đơn vị có thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên, phần còn lại đƣợc ngân sách nhà nƣớc cấp + Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thƣờng xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nƣớc bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. 10 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, theo đó đã chia đơn vị sự nghiệp công lập gồm 4 loại: + Đơn vị tự bảo đảm chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ. + Đơn vị tự bảo đảm chi thƣờng xuyên.
+ Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thƣờng xuyên. + Đơn vị đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm chi thƣờng xuyên.