Chương 1, Luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội: Luật Các Tổ chức Tín dụng quy định như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” — Căn cứ theo quy định pháp luật: Ngân hàng thương mại là loại hình mà ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhăm mục tiêu lợi nhuận. — Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức đưới hình thức công ty cổ phan. — Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Vai trò và đặc điểm của Ngân hàng thương mại: Ban chat của Ngân hàng thương mại là thé hiện qua: — Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vi kinh tế — Nói Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế nghĩa là Ngân hàng thương mại hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại bình đăng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác.
— Hoạt động của Ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh. Đề hoạt động kinh doanh, các Ngân hàng thương mại phải có vốn, phải tự chủ về tài chính. Đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy nhiên việc tìm kiêm lợi nhuận là phải chính đáng trên cơ sở chấp hành luật pháp của nhà nước.
— Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sông kinh tế-xã hội, lĩnh vực tiền tệ ngân hang là lĩnh vực “nhạy cảm”, doi hỏi một sự thận trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã hội. Lĩnh vực hoạt động này của Ngân hàng thương mại góp phần cung ứng một khối lượng vôn tín dụng rât lớn cho nên kinh tê-xã hội. Tóm lại, Ngân hàng thương mại là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phan tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đây nền kinh tế -xã hội phát triển. Chức năng cia Ngân hàng thương mai a. Chức năng trung gian tin dung của Ngân hàng thương mai Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Chức năng này đem lại lợi ích cho các chủ thể như sau: — Đối với khách hàng: là người gửi tiền, họ sẽ thu lợi từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức tiền lãi, an toàn tiền gửi, tiện ích.
Với người đi vay, giúp cho các chủ thê trong nền kinh tế thoả mãn cầu vốn tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời tiết kiệm chi phí, thời gian, tiện lợi, an toàn và hợp pháp. — Đối với ngân hàng, chức năng này là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển ngân hàng thông qua lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, đồng thời nó là cơ sở dé ngân hàng thương mai tạo bút tệ góp phan tăng qui mô tín dụng cho nền kinh tế. — Đối với nền kinh tế, chức năng này giúp điều hoà vốn tiền tệ từ nơi tạm thời dư thừa đến nơi tạm thời thiếu hụt góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đây tăng trưởng kinh tế. Chức năng trung gian thanh toán của Ngân hàng thương mại Chức năng này, ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng trích tiền trên tài khoản trả cho người thụ hưởng hoặc nhận tiền vào tài khoản.
Chức năng này đem lại lợi ích: — Đối với khách hàng hàng, thanh toán một cách nhanh chóng, an toàn, hiệu quả. — Đối với ngân hang, tạo điều kiện thu hút nguồn vốn tiền gửi thông qua cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng cao. — Đối với nền kinh tế, chức năng này lưu thông hàng hoá, thúc đây tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả quá trình tái sản xuất xã hội, đồng thời nó cũng giúp làm giảm khối lượng tiền mặt dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt. Chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mai Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, ngân hàng vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để đi vay. Sau đó, số tiền đó lại được đưa vào nên kinh tế thông qua hoạt động mua hàng hóa, trong khi những người có số dư tài khoản tiếp lại tiêu dùng thông qua các hình thức thanh toán qua thẻ,. Chức năng thủ quỹ của Ngân hàng thương mại Với chức năng này, ngân hàng thương mại nhận tiên gửi, giữ tiên, bảo quản tiên, thực hiện yêu câu rút tiên, chi tiên cho khách hàng của mình là các chủ thê trong nên kinh tế. Chức năng thủ qui góp phan tạo ra lợi ích cho các chủ thé khác nhau: — Đối với khách hàng, chức năng thủ qui giúp cho khách hàng ngoài việc đảm bảo an toàn tài sản của mình thì còn giúp sinh lời được đồng vốn tạm thời thừa.
- Đối với ngân hang, có được nguồn vốn dé ngân hàng thực hiện chức năng tín dụng và là cơ sở để ngân hàng thực hiện được chức năng trung gian thanh toán. — Đối với nền kinh tế, chức năng thủ qui khuyến khích tích luỹ trong xã hội đồng thời tập trung nguồn vốn tạm thời thừa dé phục vụ phát triển kinh tế. Công tác định giá bat động sản tại ngân hàng thương mai 1. Khái niệm và đặc điểm về bat động sản a.
Khái niệm: Theo qui định tại Điều 181 của Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005, bất động sản là các tài sản không di dời được bao gồm: a. Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kê cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó. Các tài sản khác gắn liền với đất đai. Các tài sản khác do pháp luật quy định.
Theo “Từ điển thuật ngữ tài chính” thì “Bất động sản là một miếng đất và tất cả các tài sản vật chất găn liền với đất”. Như vậy, bất động sản trước hết là tài sản nhưng khác với các tài sản khác là nó không di dời được. Theo cách hiểu này, bất động sản bao gồm đất đai và những tài sản găn liên với đât đai, không tách rời với đât đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất. Đặc dém của bắt động sản: - Bất động san là tài sản có vi trí có định - Có giới hạn về qui mô và diện tích - Có tính ảnh hưởng lẫn nhau - Có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài 1.
Điều kiện dé được công nhận là bat động sản thé chấp Đề được là tài sản thé chấp, các BĐS cần phải thỏa mãn các điều kiện: — Thuộc quyền sở hữu của bên thé chấp tại thời điểm ký kết giao dịch thế chấp BĐS BĐS không có tranh chấp: là các BĐS mà tại thời điểm ký kết giao dịch đảm bảo, chủ sở hữu BĐS đó không bị người thứ ba khiếu kiện tại Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thâm quyên. — BĐS phải được phép giao dịch và có kha năng ban được: là các BĐS không bị cắm lưu hành theo qui định của pháp luật tại thời điểm ký kết giao dịch thé chấp. Đối với hoạt động cho vay có thé chấp của các NHTM thì yêu cầu về tính thanh khoản của tài sản thế chấp là hết sức quan trọng. Bởi vậy bên cạnh những điều kiện về tính chất pháp lý của — BĐS thì điều kiện về khả năng dễ chuyển nhượng, hay tinh chất thanh khoản trên thị trường của tài sản thế chấp được các NHTM hết sức quan tâm.
Khái niệm về định giá bất động sản thế chấp Định giá bất động sản thế chấp chính là việc xác định giá trị bất động sản thế chấp cụ thể băng hình thái tiền tệ tại một thời điểm cụ thể, làm căn cứ xác định mức cho vay của ngân hàng dựa trên tài sản đảm bảo chính là bất động sản. Vai trò định giá bất động sản thế chấp Định giá bất động sản là cơ sở quan trọng để Ngân hàng đưa ra mức vay hợp lý, tránh rủi ro cho ngân hàng đồng thời tăng tính cạnh tranh trong hoạt động của ngân hàng.5: Bộ máy, nhân sự thực hiện công tác định giá bất động sản Đội ngũ bộ máy nhân sự thực hiện công tác định giá bất động sản có vai trò vô cùng quan trọng: - Giúp cho các cơ quan quản lý ban ngành của nhà nước, các Công ty, trung tâm bất động sản năm được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và giá trỊ của bat động san dé có chính sách quản lý cụ thé đối với từng Công ty, trung tâm bất động sản. - Giúp cho Công ty, trung tâm bất động sản có những giải pháp cải tiến quan lý cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát lợi nhuận của Công ty. - Giúp đưa ra cơ sở để giải quyết, xử lý tranh chấp nay sinh giữa các cổ đông của Công ty khi phân chia cô tức, góp vốn, vi phạm hợp đồng.
- Giúp đưa ra cơ sở cho các tô chức, cá nhân và công chúng đầu tư đưa ra quyết định mua bán, chuyên nhượng trên thị trường bat động san. Yêu cầu chuyên môn của người định giá bất động sản: Chứng chỉ hành nghề định giá. Để có chứng chỉ hành nghề người định giá phải được đảo tạo và có kinh nghiệm.