Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ mang tên "Hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam" thuộc khối ngành kinh tế và tài chính công, nghiên cứu về cơ chế tác động của hệ thống thuế đối với khu vực kinh tế tư nhân. Về mặt tiếp cận, đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa lý luận thể chế, phân tích quy phạm pháp lý và khảo sát thực chứng định lượng.
Về tính cấp thiết, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế. Trên quy mô toàn cầu, DNNVV chiếm xấp xỉ 96% tổng số doanh nghiệp. Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2010, khối DNNVV chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% lực lượng lao động xã hội, tạo ra 47% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và đóng góp khoảng 40% tổng thu ngân sách nhà nước. Dù sở hữu tính linh hoạt cao và khả năng giải quyết việc làm lớn, khối doanh nghiệp này chịu nhiều hạn chế nội tại: quy mô vốn nhỏ, phụ thuộc chủ yếu vào vốn chủ sở hữu và lợi nhuận giữ lại, khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng khó khăn, công nghệ lạc hậu và trình độ quản lý còn thấp. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, kinh tế Việt Nam suy giảm tốc độ tăng trưởng, thâm hụt ngân sách duy trì ở mức gần 5%, riêng năm 2012 ghi nhận khoảng 50.000 DNNVV bị giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 về trợ giúp phát triển DNNVV cùng các biện pháp giãn nợ, xóa nợ thuế, song các giải pháp này mới dừng lại ở tính chất hỗ trợ ngắn hạn. Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2013 của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) chỉ rõ: Việt Nam xếp hạng 99/189 nền kinh tế, trong đó chỉ số nộp thuế tụt 11 bậc (xuống vị trí 149/189 quốc gia), với tổng thời gian thực hiện thủ tục thuế lên tới 872 giờ mỗi năm (chiếm khoảng một phần ba thời gian làm việc). Thực tế này đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện chính sách thuế nhằm giảm gánh nặng chi phí, nuôi dưỡng nguồn thu và tạo điều kiện tích lũy vốn dài hạn cho doanh nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:
- Xây dựng cơ sở lý thuyết hoàn thiện chính sách thuế hỗ trợ phát triển DNNVV ở Việt Nam, làm rõ cơ sở hình thành chính sách và các yếu tố cấu thành gánh nặng thuế.
- Phân tích cơ sở thực tế hoàn thiện chính sách thuế cho DNNVV tại Việt Nam, bao gồm việc tổng kết kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực trạng chính sách thuế hiện hành trên hai phương diện: mức độ hỗ trợ và gánh nặng thực tế tạo ra cho doanh nghiệp cùng nguyên nhân.
- Xác lập quan điểm nghiên cứu và đề xuất hệ thống nội dung, giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển DNNVV ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Các câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm:
- Những yếu tố cấu thành trong chính sách thuế đã tạo gánh nặng thuế đối với các DNNVV như thế nào?
- Thực trạng chính sách thuế hiện nay ở Việt Nam đã tạo ra những gánh nặng thuế đối với các DNNVV như thế nào?
- Kinh nghiệm quốc tế xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế hỗ trợ cho DNNVV như thế nào và Việt Nam vận dụng được những gì từ những kinh nghiệm đó?
- Chính sách thuế của Việt Nam hiện nay cần hoàn thiện như thế nào để giảm nhẹ gánh nặng thuế, hỗ trợ phát triển DNNVV?
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào hai nhóm đối tượng: (1) Về chính sách thuế: xem xét các quy định về cơ sở thuế, thuế suất của thuế trực thu và các quy định quản lý thuế áp dụng cho DNNVV dưới góc độ cấu trúc chính sách tạo gánh nặng chi phí; (2) Về doanh nghiệp: khảo sát khối DNNVV và phân tách thành hai nhóm gồm DNNVV và doanh nghiệp siêu nhỏ (DNSN) dựa trên tiêu chí doanh thu nhằm phục vụ mục tiêu quản lý thuế.
Về phạm vi nghiên cứu, không gian thực hiện tại Việt Nam; thời gian nghiên cứu thực trạng tập trung vào giai đoạn 2006–2013 (thời kỳ cải cách thuế lần thứ ba gắn với hội nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO) và đề xuất định hướng chính sách đến năm 2020. Về sắc thuế, luận án giới hạn trọng tâm vào thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) do đây là hai sắc thuế phổ biến nhất, tạo ra gánh nặng tài chính và thủ tục lớn nhất cho DNNVV (trong khi các sắc thuế gián thu khác như thuế xuất nhập khẩu chỉ có khoảng 8% doanh nghiệp trực tiếp tham gia).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu của luận án được cấu trúc qua các nhóm chủ đề học thuật chính:
Về khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết hỗ trợ DNNVV, các công trình của Phạm Văn Hồng [25] và Trần Thị Vân Hoa [24] đã phân tích tiêu chí định tính (chuyên môn hóa thấp, ít đầu mối quản lý) và định lượng (lao động, tài sản, vốn, doanh thu) để nhận diện DNNVV. Các tác giả cũng thống kê tiêu chí phân loại DNNVV của khối Liên minh Châu Âu (EU) theo tài liệu của OECD (2009) và quy định của Việt Nam tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP:
| Khu vực phân loại |
Quy mô doanh nghiệp siêu nhỏ |
Quy mô doanh nghiệp nhỏ (Lao động / Vốn) |
Quy mô doanh nghiệp vừa (Lao động / Vốn) |
| Nông, lâm nghiệp và thủy sản |
Dưới 10 lao động |
10 – 200 lao động / Dưới 20 tỷ đồng |
200 – 300 lao động / 20 – 100 tỷ đồng |
| Công nghiệp và xây dựng |
Dưới 10 lao động |
10 – 200 lao động / Dưới 20 tỷ đồng |
200 – 300 lao động / 20 – 100 tỷ đồng |
| Thương mại và dịch vụ |
Dưới 10 lao động |
10 – 50 lao động / Dưới 10 tỷ đồng |
50 – 100 lao động / 10 – 50 tỷ đồng |
Về quan điểm lập pháp hỗ trợ, Trần Thị Vân Hoa [24] khẳng định DNNVV cần có khung pháp lý riêng hoặc đạo luật riêng với các cơ chế ưu đãi cụ thể (dẫn chứng kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan). Trái lại, Phạm Văn Hồng [25], Nguyễn Minh Tuấn [48] và Lê Thị Mỹ Linh [26] cho rằng không nên ban hành luật hay ưu đãi riêng cho khu vực này mà chỉ cần xây dựng các định hướng, chính sách hỗ trợ chung. Luận án chọn điểm đứng riêng: thừa nhận sự cần thiết phải có quy định riêng trong quản lý thuế để tránh tạo gánh nặng quá mức cho DNNVV.
Về tiêu chí phân loại doanh nghiệp trong quản lý thuế, đề tài cấp Bộ năm 2011 của Nguyễn Quang Tiến [46] chỉ rõ các bất cập khi dùng tiêu chí vốn và lao động của Nghị định 56/2009/NĐ-CP: số liệu vốn gửi đến cơ quan thuế chậm tới 90 ngày sau khi kết thúc năm tài chính (trong khi việc xác định chu kỳ kê khai thuế GTGT diễn ra từ đầu tháng 2), còn tiêu chí lao động khó kiểm soát số bình quân năm. Tác giả đề xuất sử dụng tiêu chí doanh thu làm căn cứ xác định tần suất kê khai thuế.
Về định hướng hoàn thiện thuế, Nguyễn Phước Tiên (2010) [45] và Nguyễn Ngọc Tú (2009) [49] đề xuất thu gọn thuế suất thuế GTGT từ 3 mức (0%, 5%, 10%) xuống 2 mức (0% và 7%), giảm diện miễn thuế, đơn giản hóa thuế TNDN và phát triển cơ chế một cửa, kê khai qua mạng. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tiếp cận theo giác độ ngành tài chính nhằm tăng thu ngân sách phục vụ hội nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Về chi phí tuân thủ thuế, luận án tiếp thu lý thuyết nền tảng của Cedric Sandford (1989) [68] trong tác phẩm "Administrative and Compliance Costs of Taxation", xác định chi phí tuân thủ gồm các chi phí ngoài nghĩa vụ thuế do người nộp thuế hoặc bên thứ ba gánh chịu (gồm chi phí tiền tệ, thời gian và tâm lý). Đồng thời, tác giả tham khảo các khảo sát thực nghiệm của Das-Gupta (2003) [58] tại Ấn Độ, Business New Zealand - KPMG (2003) [55] tại New Zealand, và nghiên cứu bước đầu của La Xuân Đào (2009) [22] tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và tập trung giải quyết:
- Các nghiên cứu trước về DNNVV mới dừng lại ở việc xem thuế là một cấu phần của chính sách tài chính mà chưa đi sâu vào từng quy định thuế cụ thể.
- Các nghiên cứu chuyên ngành thuế chủ yếu đứng trên giác độ quản lý nhà nước để tối ưu nguồn thu, chưa nhìn nhận từ góc độ doanh nghiệp nhằm hạn chế gánh nặng kìm hãm tích lũy.
- Chưa có công trình hệ thống hóa đầy đủ kinh nghiệm quốc tế thuộc khối OECD về chính sách thuế cho DNNVV để áp dụng tại Việt Nam.
- Thiếu các khảo sát định lượng chi tiết, đo lường toàn diện chi phí tuân thủ (về tiền tệ và thời gian) đối với DNNVV sau những điều chỉnh quản lý thuế giai đoạn 2006–2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án hệ thống hóa các khái niệm nền tảng: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo luật định nhằm tài trợ cho các nhu cầu chi tiêu công cộng (Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu, 2009 [27]; Nguyễn Thị Bất và Vũ Duy Hào, 2002 [2]). Thuế có hai đặc tính: tính cưỡng chế pháp lý cao và không hoàn trả trực tiếp. Chính sách thuế được định nghĩa là tổng thể các quan điểm, chủ trương và giải pháp được thể chế hóa trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật, Nghị định, Thông tư) làm căn cứ quản lý thuế của Nhà nước.
Về mặt lý luận, một sắc thuế gồm các yếu tố cấu thành: tên gọi, đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, cơ sở thuế, thuế suất và các thủ tục hành chính quản lý thuế. Phân loại theo tính chất điều tiết, hệ thống thuế gồm:
- Thuế trực thu (điển hình là thuế TNDN): người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế, trực tiếp làm giảm lợi nhuận giữ lại của doanh nghiệp.
- Thuế gián thu (điển hình là thuế GTGT): người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế, doanh nghiệp chỉ đóng vai trò nộp thay. Do đó, số thuế gián thu không tạo gánh nặng tài chính trực tiếp nhưng quy trình kê khai, nộp thuế lại tạo ra gánh nặng gián tiếp qua chi phí phát sinh.
Từ các phân tích trên, luận án xác lập công thức xác định gánh nặng thuế của doanh nghiệp:
$$\text{Gánh nặng thuế} = \text{Số tiền thuế trực thu phải nộp} + \text{Chi phí tuân thủ thuế}$$
Trong mô hình này:
- Số tiền thuế trực thu phải nộp được xác định bởi cơ sở thuế và mức thuế suất.
- Chi phí tuân thủ thuế (theo mô hình của Cedric Sandford) được cấu thành bởi hai bộ phận:
- Chi phí bằng tiền: chi phí thuê dịch vụ tư vấn thuế bên ngoài; chi phí tiền lương trả cho nhân sự làm công tác kế toán thuế; chi phí mua sắm, duy trì phần mềm quản lý liên quan đến thuế; chi phí mua tài liệu và đào tạo kiến thức thuế; các khoản chi phí liên lạc, đi lại và tiền phạt phát sinh do rủi ro sai sót hồ sơ.
- Chi phí về thời gian: thời gian thu thập chứng từ và chuẩn bị số liệu kê khai; thời gian lập và gửi hồ sơ tờ khai thuế; thời gian tính toán và thực hiện nộp tiền thuế; thời gian chuẩn bị hồ sơ và tiếp đoàn thanh tra, kiểm tra thuế; thời gian thực hiện thủ tục hoàn thuế và giải quyết khiếu nại.
Sáu nhóm nhân tố tác động đến quy mô chi phí tuân thủ thuế gồm: mức độ phức tạp của quy định thuế; tần suất kê khai và nộp thuế; thiết kế thủ tục hành chính và mẫu biểu; phương thức thực hiện (thủ công hay điện tử); tình trạng áp dụng nhiều sắc thuế trên cùng một căn cứ tính thuế; và quy trình giải quyết hoàn thuế, khiếu nại. Về tiêu chuẩn, một hệ thống thuế hiệu quả cần thỏa mãn bốn nguyên tắc: hiệu quả kinh tế, công bằng (ngang và dọc), đơn giản và linh hoạt. Quan điểm xây dựng chính sách thuế cho DNNVV phải đảm bảo ba yêu cầu: cân bằng giữa lợi ích nhà nước và lợi ích doanh nghiệp; hướng tới hiệu quả xã hội tổng thể (giải quyết việc làm, giảm nghèo); và hướng tới lợi ích dài hạn (mở rộng cơ sở thuế thông qua nuôi dưỡng doanh nghiệp thay vì tăng thuế suất để thu ngắn hạn).
Để phân loại phục vụ quản lý thuế, luận án chọn tiêu chí doanh thu hàng năm: nhóm doanh nghiệp lớn (>100 tỷ đồng), nhóm doanh nghiệp vừa (50 đến 100 tỷ đồng), nhóm doanh nghiệp nhỏ (<50 tỷ đồng) và nhóm DNSN (hộ, cá nhân kinh doanh). Đối tượng nghiên cứu trọng tâm là các doanh nghiệp có mức doanh thu từ 100 tỷ đồng trở xuống.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án phối hợp các kỹ thuật:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: phân tích văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết và lý luận thuế.
- Phương pháp so sánh và nghiên cứu điển cứu: phân tích kinh nghiệm chính sách thuế đối với DNNVV của khối OECD, EU và một số nước (New Zealand, Slovenia, Croatia, Kazakhstan, Tây Ban Nha...).
- Phương pháp khảo sát điều tra: phát phiếu hỏi thu thập dữ liệu sơ cấp từ các DNNVV và DNSN; sử dụng phần mềm thống kê SPSS v. để xử lý, phân tích các chỉ tiêu thời gian, chi phí tuân thủ và mức độ hài lòng đối với cơ chế thuế.
- Phương pháp khung logic: sử dụng công cụ cây vấn đề và cây mục tiêu để chuyển hóa các rào cản thực tiễn thành hệ thống mục tiêu và giải pháp chính sách.
Quy trình nghiên cứu được triển khai theo năm bước logic: (1) Tổng quan các công trình nghiên cứu; (2) Thiết lập khung lý thuyết về gánh nặng thuế; (3) Khảo cứu bài học quốc tế; (4) Khảo sát thực trạng chính sách và gánh nặng thuế tại Việt Nam; (5) Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp chính sách.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu
Chương này điểm luận toàn diện các nghiên cứu trong nước và quốc tế xoay quanh vấn đề trợ giúp DNNVV, quản lý thuế và chi phí tuân thủ. Tác giả chứng minh rằng phần lớn các công trình hiện có chỉ nhìn nhận cải cách thuế từ góc độ quản lý thu của cơ quan nhà nước, thiếu sự kết nối giữa cấu trúc chính sách với gánh nặng tài chính của DNNVV. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống nghiên cứu, chương làm rõ mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và xây dựng khung logic phương pháp luận năm bước cùng công cụ xử lý dữ liệu SPSS v. nhằm chuẩn bị cho việc khảo sát thực chứng.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chính sách thuế hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nội dung chương tập trung phát triển khung lý thuyết về gánh nặng thuế. Tác giả khẳng định nghĩa vụ thuế trực thu trực tiếp làm suy giảm tích lũy nội bộ của DNNVV, trong khi thủ tục thuế gián thu làm phát sinh chi phí tuân thủ gián tiếp. Luận án phân tích tính chất lũy thoái của chi phí tuân thủ (doanh nghiệp quy mô càng nhỏ thì tỷ lệ chi phí tuân thủ trên doanh thu càng lớn). Khảo cứu quốc tế chỉ ra các công cụ hỗ trợ DNNVV phổ biến: áp dụng ngưỡng kê khai thuế GTGT, cơ chế thuế khoán đơn giản hóa (như kinh nghiệm của Tây Ban Nha, Kazakhstan), phương pháp tính thuế giản đơn và các ưu đãi miễn giảm thuế TNDN, khấu trừ gia tăng chi phí đầu tư.
Chương 3: Thực trạng chính sách thuế hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Chương 3 trình bày các phân tích thực chứng dựa trên số liệu thứ cấp giai đoạn 2001–2012 và dữ liệu sơ cấp thu được từ khảo sát doanh nghiệp. Tác giả phản ánh bối cảnh khó khăn kinh tế khiến hàng chục nghìn doanh nghiệp giải thể năm 2012, trong khi các chính sách hỗ trợ thuế lúc đó mang nặng tính đối phó ngắn hạn. Thông qua xử lý số liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS v., chương công bố các bảng thống kê định lượng về thời gian lập hồ sơ, kê khai, nộp thuế GTGT và TNDN, chi phí in ấn hóa đơn, lưu giữ sổ sách chứng từ, thời gian chờ hoàn thuế và giải quyết khiếu nại. Kết quả đo lường cho thấy DNNVV tại Việt Nam phải dành quá nhiều thời gian và chi phí tiền tệ (thuê tư vấn, trả lương kế toán) cho nghĩa vụ thuế, đặc biệt khối DNSN gặp nhiều vướng mắc trong cơ chế thuế khoán và tiếp cận thông tin quản lý.
Chương 4: Định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đến năm 2020
Dựa trên Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 và Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011–2015, chương đề xuất các giải pháp mang tính cấu trúc:
- Đối với thuế GTGT: Áp dụng công thức tính toán của Keen và Mintz (2004) để nâng ngưỡng doanh thu kê khai thuế GTGT hợp lý tại Việt Nam lên 400 triệu đồng (thay cho mức 100 triệu đồng); thu gọn các mức thuế suất; mở rộng diện áp dụng phương pháp giản đơn cho cơ sở nhỏ.
- Đối với thuế TNDN: Ban hành mức thuế suất ưu đãi thấp hơn mức chuẩn cho DNNVV; miễn, giảm thuế có thời hạn cho doanh nghiệp mới khởi nghiệp; cho phép tính vào chi phí được trừ bằng 150% chi phí thực tế doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới công nghệ.
- Đối với công tác quản lý thuế: Chuyển chu kỳ kê khai thuế từ hàng tháng sang hàng quý; nhân rộng nộp hồ sơ và nộp thuế qua mạng điện tử; hoàn thiện cơ chế giải quyết vướng mắc một cửa nhằm giảm thiểu thời gian chờ đợi hoàn thuế và giải quyết khiếu nại.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có hai đóng góp chính:
- Xác lập rõ ràng luận điểm: Gánh nặng thuế đối với doanh nghiệp được cấu thành từ hai yếu tố cơ bản là số tiền thuế trực thu phải nộp và chi phí tuân thủ thuế. Luận án chứng minh rằng gánh nặng thuế trực tiếp làm suy giảm nguồn lợi nhuận giữ lại – nguồn tài chính chủ đạo của DNNVV – từ đó khẳng định việc giảm gánh nặng thuế là yêu cầu khách quan để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.
- Thiết lập khung phân tích gánh nặng thuế đối với hai sắc thuế trọng yếu là thuế TNDN và thuế GTGT, chỉ rõ số thuế TNDN phụ thuộc vào cơ sở thuế và thuế suất, trong khi chi phí tuân thủ thuế (đo lường bằng thời gian và tiền tệ) chịu sự chi phối quyết định từ các quy định quản lý thuế.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại ba đóng góp cụ thể:
- Đo lường định lượng thực trạng gánh nặng chi phí tuân thủ thuế của DNNVV tại Việt Nam: lượng hóa chi phí thời gian qua các khâu kê khai, nộp thuế, lưu giữ hóa đơn, chờ hoàn thuế, khiếu nại và thanh tra kiểm tra; đồng thời lượng hóa chi phí tiền tệ qua tiền lương kế toán thuế, chi phí tư vấn và đào tạo, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về gánh nặng hành chính lớn của cộng đồng doanh nghiệp.
- Đề xuất ứng dụng mô hình của Keen và Mintz (2004) vào thực tiễn Việt Nam, đưa ra kết quả tính toán định lượng xác định ngưỡng doanh thu kê khai thuế GTGT hợp lý là 400 triệu đồng (thay vì ngưỡng 100 triệu đồng đang quy định).
- Đề xuất các cơ chế ưu đãi tài chính cụ thể: cho phép doanh nghiệp trừ 150% chi phí thực tế đầu tư vào khoa học công nghệ khi tính thuế TNDN; áp dụng ưu đãi thuế TNDN cho doanh nghiệp mới thành lập; giảm số lượng các mức thuế suất thuế GTGT và giảm tần suất kê khai thuế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tập trung chủ yếu vào hai sắc thuế chính là thuế GTGT và thuế TNDN, chưa đi sâu phân tích toàn diện các sắc thuế gián thu khác (như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt) do tỷ lệ DNNVV tham gia trực tiếp vào các hoạt động này ở thời điểm nghiên cứu còn hạn chế (khoảng 8% doanh nghiệp xuất nhập khẩu). Ngoài ra, dữ liệu khảo sát sơ cấp và thứ cấp của luận án gắn liền với giai đoạn cải cách 2006–2013, do đó chưa bao quát được các biến động thể chế trong các giai đoạn chuyển đổi số thuế sau đó.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các nghiên cứu tương lai có thể:
- Mở rộng khảo sát tác động của chi phí tuân thủ thuế đối với các loại thuế tài nguyên, thuế môi trường và các loại phí chuyên ngành đối với DNNVV.
- Tiếp tục cập nhật và kiểm định mô hình Keen - Mintz để điều chỉnh ngưỡng doanh thu kê khai thuế GTGT phù hợp với các biến số lạm phát và quy mô tăng trưởng kinh tế mới.
- Khảo sát sâu về hiệu quả của hệ thống hóa đơn điện tử và nền tảng dịch vụ thuế điện tử toàn diện trong việc cắt giảm chi phí tuân thủ thực tế của doanh nghiệp siêu nhỏ.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan quản lý và lập pháp (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội): Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm để sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT, thuế TNDN và Luật Quản lý thuế, đặc biệt là căn cứ khoa học để điều chỉnh ngưỡng doanh thu tính thuế GTGT và chuyển đổi chu kỳ kê khai thuế sang quý.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế công cộng: Luận án là tài liệu tham khảo về khung phân tích chi phí tuân thủ của Sandford, phương pháp thiết kế bảng hỏi khảo sát gánh nặng thuế và quy trình xử lý dữ liệu sơ cấp bằng phần mềm SPSS.
- Đối với các hiệp hội doanh nghiệp (như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI, Hiệp hội DNNVV): Các số liệu khảo sát thực chứng về thời gian và chi phí tuân thủ thuế là luận cứ hữu ích trong việc xây dựng các kiến nghị phản biện chính sách và đối thoại với Chính phủ nhằm cải thiện môi trường kinh doanh.
Câu hỏi thường gặp
Gánh nặng thuế của doanh nghiệp được luận án xác định gồm những thành tố nào?
Luận án xác định gánh nặng thuế gồm hai thành tố: số tiền thuế trực thu phải nộp và chi phí tuân thủ thuế. Trong đó, số thuế trực thu phụ thuộc vào cơ sở thuế và thuế suất; chi phí tuân thủ thuế gồm các chi phí bằng tiền (thuê tư vấn, lương kế toán thuế, phần mềm, đào tạo, bưu điện, tiền phạt) và chi phí thời gian (chuẩn bị số liệu, kê khai, nộp thuế, phục vụ thanh tra, chờ hoàn thuế và giải quyết khiếu nại).
Tại sao luận án nhận định thuế gián thu không trực tiếp tạo ra gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp?
Bản chất của thuế gián thu (như thuế GTGT) là đánh vào hàng hóa và dịch vụ, người chịu thuế cuối cùng là người tiêu dùng. Doanh nghiệp chỉ là người thu hộ và nộp thay cho Nhà nước, nên số tiền thuế gián thu nộp vào ngân sách không trực tiếp làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thực hiện các thủ tục quản lý của thuế gián thu làm phát sinh chi phí tuân thủ, từ đó tạo ra gánh nặng gián tiếp.
Báo cáo Doing Business 2013 của WB và IFC đã đưa ra số liệu nào về thực trạng tuân thủ thuế ở Việt Nam?
Báo cáo năm 2013 ghi nhận môi trường kinh doanh Việt Nam xếp thứ 99/189 nền kinh tế, riêng lĩnh vực nộp thuế tụt 11 bậc xuống vị trí 149/189 quốc gia. Doanh nghiệp Việt Nam phải tiêu tốn tới 872 giờ mỗi năm (tương đương khoảng một phần ba tổng thời gian làm việc) để thực hiện nghĩa vụ tuân thủ thuế.
Vì sao tiêu chí xác định DNNVV theo vốn và lao động tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP không phù hợp trong quản lý thuế?
Luận án dẫn chứng nghiên cứu của Nguyễn Quang Tiến (2011) chỉ ra rằng số liệu tổng nguồn vốn trong Báo cáo tài chính nộp chậm (90 ngày sau kết thúc năm tài chính), không kịp thời cho việc ấn định nghĩa vụ kê khai thuế ngay đầu tháng 2; đồng thời tổng vốn bao gồm cả nợ vay nên không phản ánh đúng thực lực. Tiêu chí lao động cơ quan thuế chỉ nắm được qua bảng khấu trừ thuế thu nhập cá nhân nhưng không phản ánh số lao động bình quân năm và khó kiểm tra. Vì vậy, quản lý thuế cần tiêu chí riêng là doanh thu.
Cơ sở khoa học của việc đề xuất nâng ngưỡng kê khai thuế GTGT lên 400 triệu đồng là gì?
Luận án áp dụng mô hình toán kinh tế do Keen và Mintz đề xuất năm 2004 để tính toán ngưỡng doanh thu kê khai thuế GTGT tối ưu dựa trên tương quan giữa chi phí hành chính của cơ quan thuế, chi phí tuân thủ của người nộp thuế và tỷ suất sinh thu ngân sách. Kết quả tính toán cho thấy mức ngưỡng phù hợp với điều kiện Việt Nam là 400 triệu đồng thay vì mức 100 triệu đồng theo quy định thời điểm đó.
Kết luận
Luận án "Hoàn thiện chính sách thuế nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về gánh nặng thuế, phân định rõ tác động của thuế trực thu và chi phí tuân thủ đối với sự phát triển của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phân tích quy phạm và điều tra xã hội học xử lý qua phần mềm SPSS, tác giả đã lượng hóa các tổn thất về tiền tệ và thời gian mà cộng đồng doanh nghiệp phải gánh chịu trong giai đoạn 2006–2013. Luận án đưa ra các đề xuất chính sách có căn cứ định lượng như ứng dụng mô hình Keen - Mintz để nâng ngưỡng kê khai thuế GTGT lên 400 triệu đồng, cho phép khấu trừ 150% chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đây là tài liệu khoa học hữu ích phục vụ công tác hoạch định chính sách thuế và nghiên cứu kinh tế công cộng tại Việt Nam.