CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Những nghiên cứu về hỗ trợ phát triển DNNVV 1.1 Khái niệm DNNVV Phạm Văn Hồng [25], Trần Thị Vân Hoa [24] đã nêu kinh nghiệm quốc tế trong việc xác định DNNVV thông qua tiêu chí định tính và định lượng. Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNNVV như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp. Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Tiêu chí định lượng thường bao gồm các nhóm chỉ tiêu về: số lao động thường xuyên, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận.
Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định DNNVV. Mặc dù vậy tiêu thức xác định DNNVV không giống nhau ở các quốc gia khác nhau. Ngay tại mỗi quốc gia thì các tiêu thức để xác định DNNVV cũng có thể thay đổi tùy theo trình độ phát triển của từng thời kỳ, các ngành nghề khác nhau. Tiêu chí “số lao động” và “Số vốn” được sử dụng nhiều nhất.
Ví dụ: DNNVV ở các nước thuộc cộng đồng chung châu Âu (EU) được xác định như sau: Bảng 1. 1: Tiêu chí xác định DNNVV của EU Số lao động Tổng tài sản DN siêu nhỏ < 10 < 2 triệu Euro DN nhỏ < 50 < 10 triệu Euro DN vừa < 250 < 43 triệu Euro Nguồn: OECD(2009), taxation of SMEs [67] Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, DNNVV là những cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng 6 nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Cụ thể, số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 20 đến 200 người lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là doanh nghiệp vừa. Hoặc số vốn dưới 20 tỷ là doanh nghiệp nhỏ, từ 20 tỷ đến 100 tỷ là doanh nghiệp vừa.
2: Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt nam Doanh Quy mô nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động Khu vực vốn vốn Nông, lâm nghiệp và < 10 < 20 tỷ 10 – 200 20 – 100 tỷ 200 – 300 thủy sản Công nghiệp và xây < 10 < 20 tỷ 10 – 200 20 – 100 tỷ 200 – 300 dựng Thương mại và dịch vụ < 10 < 10 tỷ 10 – 50 10 – 50 tỷ 50 – 100 Nguồn:Nghị định chính phủ số 56/2009/NĐ-CP [16] Tuy nhiên, những tiêu chí trên (số lao động, số vốn) chỉ mang tính thống kê, không mang nhiều ý nghĩa trong quản lý. Lĩnh vực quản lý khác nhau cần có tiêu chí riêng để xác định DNNVV sao cho phù hợp. Trong lĩnh vực quản lý thuế, tiêu chí sử dụng để xác định DNNVV cần phải phù hợp với từng loại thuế. Cụ thể, mỗi loại thuế có đối tượng chịu thuế khác nhau, tiêu chí được sử dụng cần phù hợp với đối tượng chịu thuế.2 Đặc điểm của DNNVV Phạm Văn Hồng [25], Trần Thị Vân Hoa [24] đều chỉ ra những đặc điểm của DNNVV bao gồm: 7 Thứ nhất, DNNVV có qui mô vốn nhỏ, chủ yếu là vốn tự sở hữu, huy động từ bạn bè, người thân.
DNNVV gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính. Thứ hai, quy mô lao động nhỏ, chất lượng lao động thấp. Số lượng lao động trong các DNNVV thường rất ít, thiên về sử dụng lao động gia đình. Chất lượng lao động thấp do phần lớn có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp.
Thứ ba, lĩnh vực hoạt động chủ yếu của DNNVV là lĩnh vực chế biến, gia công và dịch vụ. Do cấu trúc và quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ bé, phạm vi hoạt động hẹp nên DNNVV rất linh hoạt và nhạy bén trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong điều kiện kinh doanh không thuận lợi, các DNNVV có thể dễ dàng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh, thay đổi ngành nghề kinh doanh. Thứ tư, người điều hành DNNVV thường là chủ sở hữu, vì vậy trình độ quản lý không cao.
Do đó, khi gặp khó khăn DNNVV dễ rơi vào rủi ro phá sản. Việc thực hiện nghĩa vụ thuế sẽ làm giảm lợi nhuận giữ lại (một phần quan trọng của vốn chủ sở hữu) của doanh nghiệp. Với qui mô vốn nhỏ, chủ yếu là vốn chủ sở hữu nên việc thực hiện nghĩa vụ thuế thực sự tạo ra gánh nặng cho DNNVV. Gánh nặng đó là một trong những nhân tố kìm hãm sự phát triển của DNNVV.
Vì vậy, việc giảm gánh nặng thuế là cần thiết để hỗ trợ phát triển DNNVV.3 Sự cần thiết phải hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Cũng theo những nghiên cứu trên DNNVV có những hạn chế vốn có, vì thế để vượt qua những khó khăn và bất lợi trong quá trình tự phát triển, DNNVV cần có sự hỗ trợ từ phía chính phủ. Những hạn chế của DNNVV cần được hỗ trợ: Thứ nhất, hạn chế về qui mô vốn cũng như khả năng tiếp cận nguồn vốn chính thức là nguyên nhận ngăn cản khả năng mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường của DNNVV. Qui mô vốn chủ sở hữu nhỏ, trình độ quản lý hạn chế là một trong những nguyên nhân khiến DNNVV khó tiếp cận với thị trường vốn chính thức. Tài chính luôn là vấn đề chính của DNNVV quá trình phát triển sản xuất kinh doanh.
Mặc dù vậy, DNNVV rất khó tiếp cận được với nguồn vốn vay từ ngân hàng, do độ rủi ro cao. Thậm chí ở những nước có các điều kiện tín dụng dễ 8 dàng thì một nhà doanh nghiệp nhỏ cũng gặp khó khăn để đạt được sự giúp đỡ tài chính. Họ không thể đáp ứng các điều kiện của các tổ chức cho vay. DNNVV thường phải tiếp cận với nguồn vốn không chính thức, có lãi suất cao.
Chi phí về vốn cao là rào cản lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy, cần thiết phải hỗ trợ tài chính cho DNNVV. Thứ hai, trình độ công nghệ lạc hậu, thiết bị máy móc cũ kỹ, dây chuyền sản xuất lạc hậu phần lớn còn mang tính thủ công. Điều này đã làm giảm khả năng cạnh tranh của DNNVV.
Nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm đối với họ thực sự là một khó khăn. Do vậy, việc hỗ trợ DNNVV đổi mới hệ thống thiết bị, trang bị máy móc thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng sản phẩm là rất cần thiết. Thứ ba, hạn chế trong tiếp cận thông tin: DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ, tìm kiếm nguồn nguyên liệu chất lượng và rẻ; những chính sách hỗ trợ của chính phủ. Để phát triển DNNVV cần phải mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, DNNVV lại gần như không có hoặc có rất ít thông tin về thị trường ngoài nước. Bên cạnh đó việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu giá rẻ và chất lượng cũng là mục tiêu hàng đầu của DNNVV. Nguồn nguyên liệu giá rẻ và chất lượng sẽ giúp DNNVV nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm giá thành sản phẩm, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh. Khả năng tiếp cận thông tin hạn chế còn khiến DNNVV ít được tiếp cận với các chính sách hỗ trợ của chính phủ.
Vì vậy, mặc dù là đối tượng được hưởng những chính sách hỗ trợ nhưng DNNVV lại không biết được điều này, khiến cho họ không nhận được hoặc không biết cách nhận những lợi ích từ các chương trình trợ giúp của chính phủ. Thứ tư, trình độ quản lý và chất lượng lao động hạn chế: DNNVV thường không có chiến lược phát triển doanh nghiệp rõ ràng, cũng như khả năng bồi dưỡng 9 nâng cao chất lượng lao động. Vì vậy, cần thiết phải hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV, đồng thời giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển.4 Quan điểm hỗ trợ DNNVV Theo Trần Thị Vân Hoa [24], DNNVV có những đặc thù riêng, khó khăn riêng, do đó cần có một khuôn khổ chính sách, khung pháp lý, thậm chí ban hành luật riêng để hỗ trợ DNNVV. Các dẫn chứng được chỉ ra như trường hợp của Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan.
Các quốc gia trên có những quy định rất cụ thể ưu đãi về đất đai, thuế suất, hỗ trợ các DNNVV. Phạm Văn Hồng [25], Nguyễn Minh Tuấn [48], Lê Thị Mỹ Linh [26], cho rằng DNNVV cũng là một bộ phận doanh nghiệp của nền kinh tế, hơn nữa lại có số lượng lớn nên không cần có văn bản pháp lý hay đạo luật riêng điều chỉnh hoạt động của nhóm doanh nghiệp này. Và nếu có một khung chính sách riêng cho DNNVV thì khung chính sách đó không được đề cập đến những vấn đề về ưu đãi (ví dụ ưu đãi thuế), mà chỉ đề ra một định hướng, chủ trương làm cơ sở cho các hoạt động hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức của nhà nước, cũng như của các hiệp hội hay các tổ chức khác đối với DNNVV. Theo quan điểm của luận án, cần có những qui định dành riêng cho DNNVV vì trong lĩnh vực quản lý thuế, việc thực hiện các qui định tương tự như doanh nghiệp lớn sẽ tạo gánh nặng quá mức cho DNNVV, do qui mô và trình độ quản lý thấp.5 Các chính sách hỗ trợ DNNVV Các tác giả Phạm Văn Hồng [25], Nguyễn Minh Tuấn [48], Lê Thị Mỹ Linh [26], Trần Thị Vân Hoa [24], đều có cùng quan điểm khi cho rằng Chính phủ cần có các chính sách tài chính và phi tài chính để hỗ trợ phát triển DNNVV.
Chính sách tài chính bao gồm: Những giải pháp giúp DNNVV tiếp cận với nguồn vốn chính thức như ưu đãi tín dụng, bảo lãnh tín dụng, thuê mua, bao thanh toán, đầu tư vốn mạo hiểm, tài trợ xuất khẩu; thành lập quĩ phát triển DNNVV và 10 chính sách thuế gồm các qui định ưu đãi thuế suất, giảm tần suất kê khai, đơn giản hóa hệ thống quản lý nhằm giảm chi phí tuân thủ.