LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quy tắc xuất xứ hàng hóa là một nội dung quan trọng trong hoạt động thương mại hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới. Trong hoạt động hải quan, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa chính là cơ sở để thực hiện những ưu đãi thương mại cũng như những hạn chế đối với hàng nhập khẩu khi xác định chính xác nguồn gốc xuất xứ. Vấn đề áp dụng quy tắc xuất xứ trong hoạt động hải quan với những vướng mắc thực tế khi kiểm tra thực tế giấy chứng nhận xuất xứ hàng nhập khẩu là nguồn tham khảo thực tiễn cho các doanh nghiệp VN tham gia hoạt động ngoại thương.
Xuất xứ hàng hoá là “quốc tịch hàng hoá”. Xuất xứ hàng hoá được xác định dựa trên các quy tắc xuất xứ, nhằm thực hiện các mục đích khác nhau, trong đó có mục đích phân biệt các chế độ ưu đãi thuế quan. Trong bối cảnh thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ như hiện nay, gian lận trong lĩnh vực xuất xứ hàng hoá ngày càng gia tăng, với các thủ đoạn phức tạp và tinh vi hơn. Ở Việt Nam, tình hình lợi dụng chính sách ưu đãi thuế quan dành cho các nước theo các Hiệp định ưu đãi thuế quan song phương và đa phương đã ký kết diễn ra rất phức tạp.
Vì vậy, đòi hỏi cần có các giải pháp quản lý đảm bảo chặt chẽ nhưng vẫn tạo thuận lợi cho thương mại. Ý thức được tầm quan trọng đối với việc kiểm tra xuất xứ hàng hoá nhập khẩu trong hoạt động của ngành Hải quan, kết hợp với thực tiễn thấy công tác kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu còn nhiều bất cập, chính vì lý do đó mà tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam” 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải quan “Cơ sở lý luận, thực tiễn, nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan trong ngành Hải quan” của tác giả Mai Văn Huyên, Tổng cục Hải quan, năm 2002. Sách “Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan ” của tác giả Phạm Ngọc Hữu, Tổng Cục Hải quan, năm 2003.
2 Đề tài luận án tiến sỹ kinh tế “Mô hình kiểm tra sau thông quan ở một số nước trên thế giới và khả năng áp dụng cho Việt nam” của Tiến sỹ Trần Vũ Minh, Tổng cục Hải quan, năm 2008. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải quan “Xây dựng quy trình kiểm tra và cơ sở dữ liệu xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu” của tác giả Âu Anh Tuấn, Tổng cục Hải quan, năm 2011. Nhìn chung các bài viết nêu trên đều nghiên cứu công tác nghiệp vụ về kiểm tra sau thông quan của ngành Hải quan, do vậy chỉ nêu một vài khía cạnh liên quan đến quy trình kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu và quá trình thực hiện việc kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trong một chủ đề chung về kiểm tra sau thông quan trong ngành Hải quan. Đề tài “Xây dựng quy trình kiểm tra và cơ sở dữ liệu xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu” cũng đã chỉ ra các cơ sở pháp lý và tình trạng thực thi việc kiểm tra xuất xứ hàng hóa, nguyên tắc và xây dựng quy trình về kiểm tra xuất xứ hàng hóa.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và đi sâu vào các vấn đề liên quan đến việc áp dụng và hoàn thiện chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu. Vì vậy, nghiên cứu này hoàn toàn không trùng lặp với các công trình nghiên cứu được thực hiện trước đó. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và đánh giá thực trạng hệ thống chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu của Hải quan Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hóa của Hải quan Việt Nam, luận văn đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hoá nhập khẩu của Hải quan Việt Nam cho phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm gia tăng vị thế cạnh tranh quốc gia cho đến năm 2020. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hoá nhập khẩu của Hải Quan Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc áp dụng, thực thi chính sách kiểm tra về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu của Hải Quan Việt Nam đối với hàng hoá nhập khẩu 3 được hưởng ưu đãi đặc biệt. Thời gian nghiên cứu từ năm 2009 đến hết năm 2013 và định hướng, giải pháp cho đến năm 2020. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp luận của của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể, đó là phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp trên cơ sở các dữ liệu thu thập được từ các sách báo, thống kê, báo cáo về kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu tại Hải quan Việt Nam.
Ngoài ra luận văn cũng sử dụng phương pháp loogic trong viêc hệ thống hóa các yếu tố và đưa ra giải pháp phù hợp. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, đề tài được chia thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xuất xứ hàng hoá nhập khẩu và chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu của Hải quan. Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu của Hải quan Việt Nam. Chương 3: Định hướng và giải pháp, kiển nghị nhằm hoàn thiện chính sách kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu của Hải quan Việt Nam cho đến năm 2020.
4 1CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA 2 NHẬP KHẨU VÀ CHÍNH SÁCH KIỂM TRA XUẤT XỨ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU CỦA HẢI QUAN 1. Những vấn đề cơ bản về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu 1. Khái niệm và vai trò của xuất xứ hàng hóa 1. Khái niệm xuất xứ hàng hóa Theo Điều 1 Hiệp định trị giá GATT 1994 (đoạn 1, phụ lục II) định nghĩa: “Xuất xứ hàng hóa là “quốc tịch” của một hàng hóa”.
Một cách đơn thuần “hàng hóa hoàn toàn được khai thác, nuôi trồng, chế biến tại một nước mà không có sự tham gia của hàng hóa nhập khẩu từ nước khác thì được coi là có xuất xứ từ nước đó”. Theo khoản 14, điều 3, Luật Thương mại Việt Nam: Xuất xứ hàng hóa là nước, vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa đó. Theo phụ lục K- Công ước Kyoto (Công ước quốc tế về hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan, sửa đổi năm 1999) thì: “Nước xuất xứ hàng hóa là nước mà ở đó hàng hóa được sản xuất và chế tạo, phù hợp với tiêu chuẩn được áp dụng trong biểu thuế hải quan, giới hạn về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại”. Như vậy, xuất xứ hàng hóa chỉ là một khái niệm tương đối, chỉ quốc gia, vùng, lãnh thổ nơi hàng hóa được sản xuất ra.
Tuy nhiên, không phải hàng hóa nào cũng được sản xuất toàn bộ ở một quốc gia nhất định. Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế như hiện nay thì không thể có tình trạng chỉ có một nước hay vùng lãnh thổ sản xuất ra toàn bộ một hàng hóa nào đó (trừ sản phẩm nông nghiệp, khai khoáng) mà thực tế cùng với sự phát triển của phân công lao động và giao lưu buôn bán 5 quốc tế, một hàng hóa được sản xuất ra có thể có sự đóng góp của nhiều quốc gia, vùng, lãnh thổ khác nhau. Việc xác định và thừa nhận quốc gia, vùng, lãnh thổ nào là xuất xứ của hàng hóa trên thực tế khá phức tạp và không phải lúc nào cũng thống nhất. Vai trò của xuất xứ hàng hóa Kiểm soát hoạt động ngoại thương: Xuất xứ hàng hóa được sử dụng như là phương tiện để áp dụng các biện pháp bảo vệ như hạn ngạch nhập khẩu, đánh thuế đối kháng, chống bán phá giá để kiểm soát lượng hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển.
Tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu được hưởng ưu đãi và quyền lợi của nước xuất khẩu tại nước nhập khẩu: Xác định chính xác xuất xứ sẽ đảm bảo sự thuận lợi và công bằng của việc hưởng thuế suất ưu đãi của nước nhập đối với hàng hóa của nước xuất khẩu tại thị trường của nước nhập khẩu. Xuất xứ hàng hóa được sử dụng kết hợp với mã số thuế để xác định mức thuế suất của thuế nhập khẩu: Xuất xứ hàng hóa là cơ sở để áp dụng các chính sách thuế khác nhau của quốc gia trong hoạt động thương mại. Khẳng định uy tín, trách nhiệm của hàng hóa đối với thị trường, khách hàng và vị trí của nước xuất hàng trong thương mại quốc tế: Uy tín chất lượng của hàng hóa đôi khi gắn liền với xuất xứ được khách hàng tín nhiệm và thừa nhận. Việc xác định xuất xứ ghi trên nhãn hiệu sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ của mặt hàng đó cũng như uy tín của quốc gia.
Bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng và bảo vệ môi trường: Thông qua xuất xứ hàng hóa, các quốc gia có thể kiểm soát cả xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm, nguyên liệu phương hại đến lợi ích cộng đồng, an ninh chính trị và bảo vệ môi sinh. Thống kê thương mại và duy trì hệ thống hạn ngạch: Số liệu thống kê được lập theo tiêu chí xuất xứ giúp cho Chính phủ đưa ra các biện pháp và chính sách trong việc cân bằng cán cân thương mại đối với từng nước, từng khu vực trên thế giới, điều hành cơ chế xuất nhập khẩu một cách kịp thời và chính xác. Phân loại xuất xứ hàng hóa Hiện nay, xuất xứ hàng hóa thường được phân loại theo mục đích của việc xác định xuất xứ. Theo tiêu thức này, xuất xứ hàng hóa được phân thành hai loại: Xuất xứ ưu đãi và xuất xứ không ưu đãi.
Xuất xứ ưu đãi Là xuất xứ của hàng hóa có thỏa thuận ưu đãi về thuế quan và ưu đãi về phi thuế quan.