CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm về chiến lược phát triển 1. Chiến lược phát triển Thuật ngữ “chiến lược” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp stratēgos có nguồn gốc từ hai từ “stratos” quân đội, bầy, đoàn và “ago” lãnh đạo, điều khiển. Thuật ngữ chiến lược được dùng đầu tiên trong quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn hoặc tổng thể làm cơ sở tiến hành các Chiến dịch có quy mô lớn nhằm mục tiêu giành thắng lợi trước đối phương.
Ngày nay, thuật ngữ này được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực như; chính trị, văn hóa, công nghệ, môi trường…, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế có tính cạnh tranh trên thương trường ngày càng khốc liệt và thương trường được ví như Chiến trường. Từ giữa thế kỷ XX, thuật ngữ Chiến lược đã được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế ở cả bình diện vĩ mô cũng như vi mô. Ở bình diện vĩ mô, Chiến lược được dùng để chỉ những kế hoạch phát triển dài hạn, toàn diện, cơ bản về những định hướng của ngành lĩnh vực hay vùng lãnh thổ. Đó là những Chiến lược phát triển thuộc quản lý vĩ mô.
Ở bình diện vi mô, các Chiến lược cũng nhằm tới sự phát triển nhưng gắn chặt với ý nghĩa kinh doanh. Cho nên ở các doanh nghiệp người ta thường nói đến" Chiến lược kinh doanh" của doanh nghiệp. Tuỳ theo từng cách tiếp cận mà xuất hiện các quan điểm khác nhau về Chiến lược kinh doanh. - Theo cách tiếp cận cạnh tranh, Micheal Porter cho rằng: “Chiến lược là nghệ 1 thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ” .Ohmae: “Mục đích của chiến lược là mang lại những điều thuận lợi nhất cho mọi phía, đánh giá thời điểm tấn công hay rút lui, xác định đúng danh giới của sự thỏa hiệp”, ông nhấn mạnh “không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến 2 lược, mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo giành thắng lợi”.
- Theo tác giả Charles W. Hill and Gareth R.Jones: “Chiến lược là những cách thức mà nhờ đó những mục tiêu dài hạn có thể đạt được” 3. - Theo Raymond Alain - Thietart: “Chiến lược đó là việc xác định các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp lựa chọn các chính sách, chương trình hành động 1 Micheal E. Porter (Tái Bản 2013), Chiến Lược Cạnh Tranh, Nhà Xuất Bản Trẻ.Ohmae (2013), Tư duy của chiến lược gia, Nhà Xuất Bản Lao Động - Xã Hội.Hill and Gareth R.Jones (2008), Strategic management, Houghton Mifflin Company, Boston, MA, USA.
5 nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản” 4. - Theo cách tiếp cận coi chiến lược là một phạm trù của khoa học quản lý, Alfred Chandler viết: “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản đó” 5. - Chandler đã nhấn mạnh tới 3 nội dung quan trọng của chiến lược: (1) Các phương án hành động để đạt được mục tiêu; (2) Quá trình tìm tòi các ý tưởng cơ bản, chứ không phải đơn thuần thực hiện các chính sách hiện hành; (3) Phải hình thành chiến lược ra sao, chứ không phải đơn thuần xem chiến lược cần thay đổi như nào. - Theo cách tiếp cận kế hoạch hoá: James B.
Quinn cho rằng: "Chiến lược đó là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các chương trình hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau" 6 Và theo William J.Glueck: "Chiến lược phát triển là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện". Thực chất của chiến lược kinh doanh là tạo lợi thế cạnh tranh, tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp trước đối thủ cạnh tranh 7. Mặc dù có những cách thức diễn đạt khác nhau, song các khái niệm chiến lược được đưa ra đều đề cập đến 03 yếu tố: một là, xác định sứ mệnh và mục tiêu lâu dài của tổ chức; hai là, đề xuất những phương án để thực hiện mục tiêu; ba là, lựa chọn phương án khả thi, triển khai phương án và phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu. Trong doanh nghiệp, chiến lược được tiếp cận dưới nhiều cấp độ khác nhau.
Trong đó, chiến lược phát triển là chiến lược cấp tổ chức, chiến lược cấp cao nhất định hướng cho các chiến lược khác và có thể định nghĩa như sau: Chiến lược phát triển của doanh nghiệp là những kế hoạch dài hạn và những giải pháp lớn nhằm thực hiện kế hoạch đó. Theo đó, chiến lược phát triển của doanh nghiệp có những đặc trưng cơ bản: - Chiến lược phát triển bao trùm các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp và thường thì chỉ các nhà quản lý cấp cao mới có đủ khả năng và tầm nhìn cần thiết để hiểu được những ảnh hưởng rộng lớn của quyết định chiến lược và có đủ thẩm quyền phân bố nguồn lực cần thiết. 4 Raymond Alain -Thietart (1999), Chiến lược doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thanh niên - Hà Nội. Chandler (1962) “Strategy and Structure: Chapters in the Hictory of industrial Enterprises”; Cambridge, Ma: MIT Press, USA.
Quinn (1980), Strategies for change: Logical incrementalism, Irwin Professional Publishing, USA. Glueck (1980), Business Policy and Strategic Management, McGraw-Hill, USA. 6 - Chiến lược phát triển ảnh hưởng lâu dài tới triển vọng của doanh nghiệp vì khi doanh nghiệp đã cam kết thực hiện một chiến lược phát triển cũng đồng nghĩa với việc quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp trên thương trường. - Các vấn đề chiến lược thường định hướng tương lai vì được xây dựng dựa trên những dự đoán của những nhà quản lý hơn là những gì họ biết.
Phân biệt chiến lược phát triển với các phạm trù khác. Chiến lược là đường hướng phát triển cho doanh nghiệp, nếu coi chiến lược là mục đích thì chính sách là những phương tiện để đạt được mục đích đó. Chính sách là phương tiện để đạt được mục tiêu chiến lược, đó là những cách thức, nguyên tắc, quy định, hướng dẫn hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp, phương thức đường lối hướng dẫn trong quá trình phân bổ nguồn lực, chính sách tồn tại dưới các văn bản hướng dẫn, quy tắc, thủ tục,. Như vậy, về phạm vi trong cùng một cấp thì chiến lược rộng hơn chính sách vì chiến lược xác định một hướng đi và mục tiêu mang tính dài hạn.
Tuy nhiên đây là sự khác biệt có tính chất tương đối, bởi vì các doanh nghiệp khi hoạch định chiến lược phải dựa vào các chính sách của Nhà nước. - Chiến lược và kế hoạch, chương trình, dự án. Chiến lược, kế hoạch, chương trình dự án khác nhau trên các nội dung: + Khác nhau về cách thể hiện: chiến lược thể hiện bằng các định hướng, các chính sách, các kế hoạch còn kế hoạch thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể. + Khác nhau về mục tiêu, thể hiện ở chỗ: chiến lược nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp đối với đối thủ cạnh tranh, kế hoạch nhằm vào việc thực hiện quá trình quản lý tác nghiệp để thực hiện các mục tiêu của chiến lược theo từng cấp độ, thời gian.
+ Khác nhau về cấp độ. Kế hoạch dài hạn Kế hoạch theo thời gian Kế hoạch ngắn hạn Chuẩn đoán Chiến lược chiến lược kinh doanh Dự án Kế hoạch theo mục tiêu Chương trình Hình 1. Sơ đồ mô tả Chiến lược, Kế hoạch, Chương trình, Dự án. 7 (Nguồn: Công ty TNHH Tư vấn Quản lý Châu á - Thái bình dương, http://www.vn/10188-tong-quan-ve-chien-luoc-va-quan-ly-chien-luoc, ngày18/7/2018) - Quyết định chiến lược và quyết định tác nghiệp.
Quản lý chiến lược và quản lý tác nghiệp là hai lĩnh vực quản lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau trong quá trình thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chúng khác nhau về tính chất, mục tiêu và cấp độ trên một số các tiêu chuẩn: mức độ ảnh hưởng, thời gian, khả năng chuyển đổi, môi trường, thông tin, tính chặt chẽ, mô hình quyết định, bản chất quyết định, số lượng, kết quả, thất bại, rủi ro, người ra quyết định, và tính chất lặp lại. Yêu cầu và ý nghĩa của chiến lược phát triển Yêu cầu cơ bản của chiến lược phát triển là: - Chiến lược phát triển phải xác định sứ mệnh của tổ chức: nhằm đảm bảo sự thống nhất của hệ thống kế hoạch của tổ chức. - Chiến lược phát triển phải xác định rõ những mục tiêu cơ bản cần phải đạt được trong từng thời kỳ và cần phải quán triệt ở mọi cấp, mọi lĩnh vực hoạt động trong doanh nghiệp hoặc tổ chức.
- Chiến lược phát triển phải bảo đảm huy động tối đa và kết hợp một cách tối ưu việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong kinh doanh, nhằm phát huy được những lợi thế, nắm bắt những cơ hội để dành ưu thế trong cạnh tranh. - Chiến lược phát triển của doanh nghiệp được phản ánh trong một quá trình liên tục từ xây dựng đến thực hiện, đánh giá, kiểm tra, điều chỉnh chiến lược. - Chiến lược phát triển được lập ra cho một khoảng thời gian tương đối dài thường là 3 năm, 5 năm hay 10 năm. - Chiến lược phát triển phải có khả năng thích nghi trong mối quan hệ với môi trường, đồng thời chiến lược phát triển sẽ tạo cho doanh nghiệp một thế chủ động trong mối quan hệ với các lực lượng môi trường Ý nghĩa của chiến lược phát triển: - Giúp cho doanh nghiệp nhận thấy rõ mục đích hướng đi của mình làm cơ sở cho mọi kế hoạch hành động cụ thể, tạo ra những phương án kinh doanh tốt hơn thông qua việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tăng sự liên kết và gắn bó của cán bộ quản lý trong thực hiện mục tiêu doanh nghiệp.
- Giúp cho doanh nghiệp nhận biết được các cơ hội và thách thức trong tương lai, qua đó có thể thích nghi bằng cách giảm thiểu sự tác động xấu từ môi trường, tận dụng những cơ hội của môi trường khi nó xuất hiện, giúp các doanh nghiệp đưa 8 ra các quyết định đúng đắn phù hợp với biến đổi của môi trường đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. - Giúp cho doanh nghiệp tạo ra thế chủ động trước tác động của môi trường. - Cho phép phân phối một cách có hiệu quả về thời gian, nguồn lực cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau.