mở đầu quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Hình ảnh người lính viễn chinh Pháp cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam là biểu tượng của sự chấm dứt vĩnh viễn những liên hệ có tính chất thực thực dân Pháp đối với Việt Nam. Nhưng ở miền Nam Việt Nam lúc đó, người lính Pháp ra đi thì thay thế vào đó là hàng trăm “ cố vấn” Mỹ đến để huấn luyện chỉ huy quân đội đánh thuê người Việt Nam. Miền Nam Việt Nam đã thực sự chuyển đổi từ thuộc địa Pháp sang lệ thuộc Mỹ, theo kiểu “thực dân mơi”.
Mỹ từng bước xây dựng một chính quyền lệ thuộc Mỹ và một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới. Mục tiêu lâu dài của Mỹ là: Chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, Mỹ muốn lấy miền Nam Việt Nam làm phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á, đồng thời làm căn cứ để tấn công miền bắc hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ 10 nghĩa khác. Chủ trương của Mỹ trong giai đoạn này là tăng cường số “cố vấn” và viện trợ Mỹ, xây dựng và củng cố chế độ Ngô Đình Diệm, lấy đó làm chỗ dựa để áp đặt củ nghĩa thực dân mới, ra sức nâng đỡ quân đội và chính quyền, dùng các lực lượng này đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam. Xa hơn nữa, Mỹ muốn dùng quân đội và chính quyền Sài Gòn làm lực lượng xung kích quan trọng cho âm mưu xâm lược và nô dịch của Mỹ ở Đông Dương.
Thực hiện chủ trương trên, Tổng thống Mỹ Aixenhao đã cử Tướng J.Côlin, nguyên Tổng tham mưu trưởng lục quân Mỹ, sang Sài Gòn làm Đại sứ. Đây là nhân vật vô cùng quan trọng, thay mặt Chính phủ Mỹ điều hành trực tiếp việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Quyền lực của viên đại sứ Mỹ ở Sài Gòn có thể so sánh với các viên toàn quyền, cao ủy Pháp trước đây ở Việt Nam. Chỉ có điểm khác nhau là nay viên đại sứ thể hiện quyền lực một cách giấu mặt và khéo léo, tinh vi hơn.
Trước khi đến Sài Gòn, Côlin đã đưa ra một kế hoạch 6 điều, gồm: 1. Ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm. Viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn, không qua Pháp. Xây dựng lại “quân đội quốc gia” cho Ngô Đình Diệm gồm 15 vạn quân do Mỹ huấn luyện và cung cấp vũ khí 3.
Tổ chức bầu Quốc hội miền Nam, thực hiện “độc lập” giả hiệu. Thực hiện việc định cư cho số người Bắc di cư và kế hoạch cải cách điền địa. Thay đổi thuế khóa, giành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ xâm nhập miền Nam Việt Nam. Đào tạo cán bộ hành chính cho chính quyền Ngô Đình Diệm.
Đến tháng 3 – 1955, đã có sự xung đột mạnh mẽ giữa Ngô Đình Diệm với các giáo phái gọi là “tam liên” ( Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên), lực lượng của Ngô Đình Diệm đánh nhau ác liệt với quân đội Hòa Hảo ở vùng Hậu Giang và đánh nhau với quân đội Bình Xuyên ngay tại Sài Gòn. Được Mỹ hỗ trợ, phần thắng thuộc về Ngô Đình Diệm. Các quân đội Hòa Hảo và 11 Bình Xuyên tan rã. Lãnh tụ Bình Xuyên Lê Văn Viễn được Pháp bí mật đưa sang Pháp.
Còn lực lượng Cao Đài thì lúc đầu “ án binh bất động”, sau bị Ngô Đình Diệm mua chuộc đã phản lại “tam liên”, theo Ngô Đình Diệm đánh Bình Xuyên. Cùng lực lượng Đại Việt ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Phú Yên, Quốc dân Đảng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum cũng bị Ngô Đình Diệm dùng vũ lực tiêu diệt. Cùng với các hành động đánh phá, tiêu diệt các lực lượng giáo phái và đảng phái đối lập, chính quyền đã tập trung toàn bộ binh lực cho việc đánh phá phong trào cách mạng và khủng bố dã man nhân dân miền Nam. Bởi vì Ngô Đình Diệm và những người theo ông biết rằng, đây mới chính là lực lượng mạnh mẽ uy hiếp sự tồn tại củ chính quyền Sài Gòn, bất chấp các điều khoản của Hiệp định Giơnevo, trong đó điều 14c quy định: “Không dùng cách trả thù hay phân biệt đối xử nào đối với cá nhân hoặc tổ chức, vì lý do hoạt động của họ trong chiến tranh và cam kết những bảo đảm tự do dân chủ của họ”, Ngô Đình Diệm đã trắng trợn khủng bố nhân dân miền Nam, nhất là nhân dân ở vùng kháng chiến cũ.
Chính quyền và quân đội sài Gòn không từ một thủ đoạn tàn ác nào để trả thù, ám hại những người kháng chiến cũ và không ghê tay khi xả súng vào những cuộc biểu tình mừng hòa bình của nhân dân miền Nam, gây ra những vụ tàn sát dã man làm cho mỗi nơi hàng vài chục thậm chí vài trăm người chết và bị thương. Sự tàn ác như vậy không thể hiên sức mạnh mà chỉ chứng tỏ nỗi lo sợ của họ trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ vì tự do dân chủ, vì hòa bình và thống nhất Tổ quốc của nhân dân miền Nam. Để làm chỗ dựa cho chính quyền thực dân mới, Mỹ và Ngô Đình Diệm đã làm mọi cách để có thể tập hợp và xây dựng lực lượng. Bởi vì được đưa lên cầm quyền chủ yếu bằng đô la và vũ khí Mỹ, cơ sở chính trị, xã hội của Ngô Đình Diệm lúc đầu rất mỏng manh.
Lực lượng đầu tiên mà Mỹ và Ngô Đình Diệm tính toán đến trong việc tìm chỗ dựa này là các giáo dân. Một kế hoạch nhằm cưỡng ép hàng chục giáo dân miền Bắc di cư vào Nam đã được Mỹ vạch ra và ra sức thực hiện. Kế hoạch thâm độc này được Mỹ chuẩn bị ngay từ khi Hội nghị Giơnevo vừa được bắt đầu và Pháp chưa đại bại tại Điện 12 Biên Phủ. Sau đó, ngày 30 tháng 6 năm 1954, Tổng thống Mỹ Aixenhao đã đề cập đến việc tổ chức cho dân di cư từ Bắc vào Nam nếu một hiệp định đình chiến được kí kết tại Giơnevo và nước Việt Nam bị chia cắt tạm thời bởi hai vùng tập kết.
Mục tiêu của cuộc di cư vô cùng tốn kém này là Mỹ và Ngô Đình Diệm muốn đưa càng nhiều những người Công giáo miền Bắc vào Nam càng tốt để tạo cho chính quyền một chỗ dựa về chính trị, một nguồn tuyển mộ quân lính và tay sai. Ngô Đình Diệm đã có những chính sách ưu đãi đặc biệt đối với những người Công giáo di cư và cùng với Công giáo nói chung. Do đó Ngô Đình Diệm đã tạo nên một sự chia cách giữa những người Công giáo với những người thuộc tôn giáo khác và những người không theo tôn giáo nào. Trong những năm Ngô Đình Diệm thống trị ở miền Nam tín đồ Công giáo được đưa làm nòng cốt trong chính quyền, quân đội và các đoàn thể, các đảng phái chính trị phản động của Ngô Đình Diệm hoặc theo Ngô Đình Diệm.
Không những thế, Ngô Đình Diệm đã cho lập nhiều đội quân vũ trang mang danh Thiên Chúa giáo hoặc cho một số phần tử chống cộng khoác áo thầy tu lập những đơn vị vũ trang Công giáo ở địa phương nhằm chống phá cách mạng, đàn áp, khủng bố nhân dân miền Nam và kì thị các tôn giáo khác. Các đơn vị vũ trang đóng ở căn cứ Hải Yến, Cà Mau do Phan Lạc Hóa, một phần tử phản động đội lốt cha cố với các hành động cực kỳ dã man là một ví dụ điển hình cho các đơn vị vũ trang thuộc loại này. Không chỉ lấy Công giáo làm lực lượng nòng cốt trong chính quyền, quân đội, Ngô Đình Diệm còn thiết lập một trật tự chính trị theo kiểu riêng của mình trong đó quyền lực chủ yếu do gia đình ông ta nắm giữ.2 TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO MIỀN NAM VIỆT NAM Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng Đông Nam Châu Á, Bắc giáp với Trung Hoa, Đông và Nam giáp với Biển Nam Hải, phía Tây giáp với Lào và Campuchia, tôn giáo chính : Phật giáo ( những tôn giáo nhỏ khác là Khổng, Lão, Cao Đài, Hòa Hảo, Ky Tô, Tin Lành. ); thể chế chính trị Cộng Sản, Lao động (nông 8 ngư nghiệp ): 73 % dân số truyền thông đại chúng 7 triệu máy radio, 3 triệu máu truyền hình, Nhật báo Nhân Dân phát hành 13 200.000 tờ mỗi ngày, thu nhập bình quân đầu người 113 đô la.
Việt Nam là một quốc gia nằm ở ngã tư của lưu lộ quốc tế thuộc Đông Nam Châu Á, và là nơi dừng chân của các thương buôn của vùng Địa Trung Hải. Từ một vị trí địa lý thuận lợi như thế, do đó các quốc gia trong vùng này đã thiết lập các mối quan hệ kinh tế, thương mại, văn hóa, tôn giáo. Vì vậy các tôn giáo lớn, trong đó có Phật giáo gặp nhiều thuận lợi du nhập vào nước ta. Ngay khi được truyền vào, từ thế kỷ đầu, Đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt và trong quá trình hình thành và phát triển trên đất nước, Đạo Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hòa nhập vào mọi giai tầng của xã hội Việt Nam.
Đạo Phật đã thấm vào nền văn minh Việt Nam tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào đất. Đạo Phật đã lan tỏa khắp hang cùng ngỏ hẻm trên lãnh thổ Việt Nam và đã có một chỗ đứng nhất định từ cung đình cho đến làng xã Việt Nam Đạo lý của Phật giáo Việt Nam cũng đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt và đã trở thành những giá trị tinh thần vô giá cho người dân. Trong suốt chiều dài lịch sử mười tám thế kỷ qua, Đạo Phật đã chứng minh sự hiện hữu của mình trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. và có những đóng góp, những ảnh hưởng tích cực.
Tuy nhiên giai đoạn này Phật giáo bị chèn ép một cách nặng nề. Quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất từ năm 1955 nhưng Đạo dụ số 10 do ông ký ngày 6.1950 vẫn được chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành theo, bởi vì Đạo dụ này không ràng buộc Công giáo vào thể chế hiệp hội và cho phép kiềm chế các tôn giáo khác. Ngoài sự chèn ép các tổ chức Phật giáo, chế độ còn khủng bố những tăng sĩ và cư sĩ đang hoạt động đắc lực tại các chi hội Phật giáo tại địa phương, ép người phật tử bỏ đạo để theo Công giáo. Có người vì sợ mất công ăn việc làm nên đã phải làm lễ rửa tội theo đạo.