Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp Chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 – 1963) do sinh viên Nguyễn Đình Tùng thực hiện tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Thủ Dầu Một (chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, niên khóa 2012 – 2016) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Quang Hậu.
Bối cảnh thực tiễn của đề tài gắn liền với giai đoạn lịch sử sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, khi đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai thể chế chính trị khác nhau. Tại miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa trải qua ba giai đoạn: Đệ nhất Cộng hòa (1955 – 1963), Thời kỳ Quân quản (1963 – 1967) và Đệ nhị Cộng hòa (1967 – 1975). Trong đó, giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa dưới sự điều hành của Tổng thống Ngô Đình Diệm mang nhiều nét đặc thù về tổ chức bộ máy và quản trị xã hội. Dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành và thực thi hệ thống chính sách tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội miền Nam. Trong đó, chính sách tôn giáo nổi bật với xu hướng ưu đãi Công giáo và phân biệt, kiềm chế các tôn giáo khác, đặc biệt là Phật giáo. Tác giả nhận định dù đã có một số công trình đề cập đến tôn giáo thời kỳ này, nhưng việc nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống về chính sách đối với Công giáo của chính quyền Diệm cùng hệ quả của nó vẫn còn những khoảng trống tư liệu cần được khảo cứu toàn diện.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định qua 3 nhiệm vụ khoa học cụ thể:
- Khái quát tiến trình hình thành, phát triển và sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 – 1963 trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và đối ngoại.
- Trình bày, phân tích có hệ thống các chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Công giáo trên các lĩnh vực: chính trị - quân sự, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục và hoạt động đối ngoại.
- Nhận định, đánh giá bản chất và làm rõ hệ quả của chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với tình hình miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955 – 1963.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống chủ trương, sắc lệnh, nghị định, biện pháp thực thi và chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm.
- Phạm vi không gian: Địa bàn miền Nam Việt Nam dưới sự kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1955 – 1963 (khóa luận có mở rộng truy nguyên bối cảnh năm 1954 và liên hệ các diễn biến liên quan trước và sau thời điểm này nhằm làm rõ logic lịch sử).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý luận và phương pháp luận:
Khóa luận được triển khai dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, nhà nước và mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo trong xã hội có phân chia giai cấp.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng chủ đạo nhằm khôi phục và trình bày trung thực tiến trình hình thành, xác lập, thực thi chính sách và sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm gắn liền với các mốc thời gian, sự kiện lịch sử cụ thể.
- Phương pháp logic: Được vận dụng để phân tích bản chất, nguồn gốc hình thành của các chính sách tôn giáo, lý giải mối quan hệ nội tại giữa quyền lực của dòng họ Ngô Đình với hệ thống giáo hội Công giáo, cũng như chuỗi hệ quả chính trị - xã hội dẫn tới khủng hoảng năm 1963.
- Phương pháp so sánh: Đặt chính sách ưu đãi dành cho Công giáo trong thế đối chiếu trực tiếp với các biện pháp hành chính, pháp lý áp đặt lên các tôn giáo khác (Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành) trên từng lĩnh vực cụ thể.
Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu:
Tác giả khai thác nguồn tài liệu lưu trữ cấp 1 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), bao gồm các hồ sơ gốc số 1256, 6216 chứa các bản thống kê quân nhân, công văn, công điện, thư tín, chỉ thị hành chính của Phủ Tổng thống và Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn. Bên cạnh đó, tác giả khảo sát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Sài Gòn (Sắc lệnh số 85-QP, Dụ số 6, Dụ số 10, Dụ số 13, Luật 10-59, Luật Gia đình số 1/59, các Nghị định điều động linh mục vào quân đội số 286/QP, 905/QP, 1108/QP, 1383/QP, 460/QP, 495/QP) cùng nguồn sách báo, tạp chí chuyên ngành tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, Thư viện tỉnh Bình Dương và Thư viện Trường Đại học Thủ Dầu Một.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Khái quát chế độ Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 - 1963
Chương I tập trung phục dựng bức tranh tổng thể về chế độ Đệ nhất Cộng hòa từ khi hình thành đến lúc sụp đổ. Sau thất bại của thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ (7/5/1954), Hoa Kỳ từng bước can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam. Ngày 16/6/1954, Quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng với toàn quyền hành động. Ngày 7/7/1954, chính phủ Ngô Đình Diệm chính thức ra mắt.
Giai đoạn đầu, chính quyền đối mặt với sự phản kháng của các lực lượng vũ trang Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên thuộc "Mặt trận thống nhất toàn lực Quốc gia". Bằng các biện pháp quân sự và phân hóa (chiến dịch Hoàng Diệu truy quét Bình Xuyên tại Rừng Sát, chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp Hòa Hảo tại Cái Vồn, Thốt Nốt), chính quyền Diệm đã từng bước loại trừ các lực lượng đối lập. Ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc "Trưng cầu dân ý" nhằm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại. Cuộc bỏ phiếu ghi nhận kết quả 5.735.000 phiếu đồng ý phế truất (đạt tỷ lệ 98,2%) và 63.105 phiếu chống. Ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm chính thức tuyên bố thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa theo mô hình Tổng thống chế.
Bộ máy nhà nước được thiết lập gồm ngành hành pháp do Tổng thống đứng đầu cùng Nội các 14 Bộ trưởng; ngành lập pháp gồm Quốc hội một viện với 123 dân biểu; ngành tư pháp có Viện Bảo hiến, Tòa Phá án tại Sài Gòn và hai Tòa Thượng thẩm tại Sài Gòn và Huế. Nhằm củng cố quyền lực, chính quyền ban hành Dụ số 6 (11/1/1956) lập trại tập trung, Dụ số 13 (20/2/1956) kiểm soát báo chí, và Luật 10-59 (5/1959) lập Tòa án quân sự đặc biệt. Trên bình diện kinh tế - xã hội, chính quyền triển khai chương trình Cải cách điền địa (nhận 12 triệu USD viện trợ từ Mỹ giai đoạn 1955 - 1960 dưới sự cố vấn của W. Ladejinsky), thành lập các Khu dinh điền (Cái Sắn, Trần Văn Thời), Khu trù mật (từ 7/7/1959) và Quốc sách Ấp chiến lược (từ năm 1961 do Ngô Đình Nhu và Phạm Ngọc Thảo phụ trách).
Chính quyền sụp đổ vào năm 1963 dưới tác động tổng hợp: thất bại quân sự trước phong trào giải phóng (điển hình là trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963 phá sản chiến thuật "Trực thăng vận", "Thiết xa vận"; 2.895 trong tổng số 6.164 ấp chiến lược bị phá hủy); sự bùng nổ của phong trào đấu tranh Phật giáo bắt đầu từ cuộc đàn áp đêm 20 rạng 21/8/1963; và sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ. Ngày 1/11/1963, cuộc đảo chính quân sự nổ ra; ngày 2/11/1963, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị sát hại trên đường áp giải từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham mưu, chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hòa.
Chương II: Chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 – 1963)
Chương II là phần trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết cơ cấu quyền lực và toàn bộ hệ thống chính sách ưu đãi đối với Công giáo:
-
Mối quan hệ giữa chính quyền và Công giáo: Khóa luận chỉ rõ nguồn gốc dòng họ họ Ngô Đình tại làng Xuân Dục, chuyển về Đại Phong (Lệ Thủy, Quảng Bình), có truyền thống Công giáo lâu đời. Gia đình hình thành cơ cấu "Gia đình trị" kết hợp chặt chẽ giữa Giáo quyền và Thế quyền: Ngô Đình Thục giữ chức Tổng giám mục Huế (từ 1960) giữ vai trò cố vấn tối cao; Ngô Đình Nhu giữ chức Cố vấn chính trị, chỉ đạo Đảng Cần lao Nhân vị và tổ chức Thanh niên Cộng hòa; Trần Lệ Xuân lãnh đạo phong trào Phụ nữ Liên đới và đề xuất các đạo luật như Luật Gia đình số 1/59 (gồm 135 điều); Ngô Đình Cẩn chỉ đạo mạng lưới Cần lao miền Trung; Ngô Đình Luyện giữ chức Đại sứ lưu động tại châu Âu. Quyền lực thực tế của giới chức sắc Công giáo hình thành hiện tượng "Linh mục chế" can thiệp trực tiếp vào bộ máy hành chính và tư pháp địa phương.
-
Tôn vinh, ưu đãi Công giáo và kỳ thị các tôn giáo khác:
- Về tư tưởng - chính trị: Chính quyền áp dụng Chủ nghĩa Nhân vị (dựa trên thuyết Personnalisme của Emmanuel Mounier), thành lập Trung tâm Huấn luyện Nhân vị Vĩnh Long do Ngô Đình Thục sáng lập, buộc công chức mọi tôn giáo phải theo học giáo lý Công giáo. Các tôn giáo khác bị kỳ thị nặng nề; Dụ số 10 quy định các tổ chức tôn giáo ngoài Công giáo chỉ có quy chế hiệp hội thể thao, văn hóa và bị hạn chế quyền sở hữu bất động sản. Nhiều tín đồ Phật giáo bị bức hại, bắt giam (như các trường hợp bị chôn sống tại miền Trung: Nguyễn Chuyển, Đỗ Thìn).
- Về kinh tế: Ban hành Nghị định số 1182-BKT/NTT/NĐ ngày 6/8/1961 cấm mổ và bán thịt heo trên toàn lãnh thổ vào 3 ngày trong tuần (thứ ba, thứ sáu, chủ nhật - tương ứng với các ngày chay và lễ của Công giáo). Các thương nhân Phật tử bị sách nhiễu, vu cáo tội làm gián điệp hoặc chứa chấp thuốc phiện để tịch thu tài sản (Phan Văn Thí, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Đắc Phương, Nguyễn Văn Chiểu, Trần Nghiêm, Trần Nguyên Cáo).
- Về văn hóa - giáo dục: Chính quyền chi công quỹ xây dựng, trùng tu các cơ sở Công giáo như Trung tâm Thánh mẫu La Vang (Quảng Trị), Tượng Đức Mẹ Hòa Bình (Sài Gòn), chiếm chùa núi Thiên Bút (Quảng Ngãi) năm 1961 để lập cơ sở Công giáo; hủy bỏ ngày nghỉ lễ Phật đản dành cho công chức và quân nhân; kiểm soát ngặt nghèo các trường tư thục Phật giáo nhằm kìm hãm hệ thống trường Bồ Đề.
- Chính sách chính trị - quân sự:
- "Công giáo hóa" bộ máy chính trị thông qua việc biến Đảng Cần lao Nhân vị (hoạt động theo Nghị định 116-bNV/CT) thành công cụ đưa riêng tín đồ Công giáo nắm giữ các chức vụ Bộ trưởng, Tỉnh trưởng, Quận trưởng, Xã trưởng và Phó Đô trưởng Sài Gòn (Trung tá Nguyễn Văn Phước).
- Trong quân đội: Ngày 23/6/1956, ban hành Sắc lệnh số 85-QP tổ chức Đoàn Tuyên úy Công giáo; thành lập Liên đoàn Sĩ quan Công giáo (1957). Ban hành các Nghị định tuyển dụng hàng loạt linh mục giữ hàm Trung úy đồng hóa (Nghị định 286/QP, 905/QP, 1108/QP, 1383/QP, 460/QP, 495/QP). Sĩ quan Công giáo được ưu tiên thăng cấp nhanh (Trần Thanh Chiêu, Lê Quang Tung, Trần Ngọc Tám), trong khi sĩ quan Phật giáo bị kìm hãm (Đại tá Linh Quang Viên, Huỳnh Văn Tôn).
- Vũ trang hóa giáo dân: Thành lập các đội quân vũ trang Công giáo tại địa phương như Biệt khu Bình Hưng của linh mục Nguyễn Lạc Hóa (1.200 quân, có sân bay riêng tại Cà Mau) và Trà Long (Cần Thơ). Theo Chỉ thị số 108-TTP/TMBB/3 ngày 7/3/1960 của Trung tá Cao Văn Viên, chính quyền đã tuyển chọn và đưa 880/1.234 thanh niên Công giáo tại các tỉnh Tây Nam Bộ (Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Long An...) về Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn 7 để thụ huấn quân sự và cấp phát vũ khí trực tiếp cho các họ đạo.
- Chính sách kinh tế - xã hội đối với người di cư:
Sau năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ 112 triệu USD và cung cấp 55 tàu vận tải phục vụ cuộc di cư từ Bắc vào Nam. Chính quyền thành lập Phủ Tổng ủy Di cư, sử dụng truyền thông tâm lý chiến đưa số lượng lớn giáo dân vào Nam. Các trại định cư và Khu dinh điền được ưu tiên cấp đất, phân phối độc quyền lương thực, chăn màn, hàng viện trợ từ Văn phòng Viện trợ Công giáo Hoa Kỳ (NCWC) do Đức cha Harnett phụ trách.
| Nhóm quân nhân |
Sĩ quan |
Hạ sĩ quan |
Binh sĩ |
Tổng cộng |
| Quân nhân Công giáo |
562 |
1.529 |
28.438 |
30.529 |
| Quân nhân nguyên giáo (ngoài Công giáo) |
249 |
1.445 |
3.751 |
5.445 |
Bảng 1: Thống kê so sánh số lượng quân nhân Công giáo và quân nhân nguyên giáo trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa (tháng 9/1957) theo tài liệu Hồ sơ 1256, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
| Địa phận |
Tín hữu trước di cư |
Tỷ lệ tín hữu di cư (%) |
Linh mục trước di cư |
Tỷ lệ linh mục di cư (%) |
| Hà Nội |
200.000 |
50% |
170 |
85% |
| Hải Phòng |
120.500 |
40% |
809 |
72% |
Bảng 2: Thống kê số lượng giáo dân và linh mục di cư vào Nam năm 1954 tại hai địa phận miền Bắc theo dữ liệu của tác giả Trần Tam Tỉnh.
Chương III: Nhận định, đánh giá chính sách Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm (1955 – 1963)
Chương III tổng kết các nhận định khoa học về bản chất và hệ quả lịch sử của chính sách:
- Về bản chất: Toàn bộ chính sách ưu đãi Công giáo không xuất phát thuần túy từ mục đích tôn giáo nhân đạo như các tuyên bố chính thức, mà là công cụ chính trị nhằm xây dựng chỗ dựa xã hội trung thành cho gia đình họ Ngô Đình và phục vụ mưu đồ thực dân mới của Hoa Kỳ. Chế độ kết hợp chặt chẽ giữa độc tài gia đình trị với chính sách "Giáo trị", đưa quyền lợi tôn giáo lấn át lợi ích dân tộc.
- Về hệ quả:
- Khoét sâu sự chia rẽ và bất bình đẳng tôn giáo, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc truyền thống tại miền Nam Việt Nam.
- Gây ra sự xáo trộn kinh tế - xã hội nghiêm trọng do cưỡng bức di cư và phân biệt đối xử trong phân phối nguồn lực sản xuất, đất đai.
- Thúc đẩy mâu thuẫn xã hội phát triển đến đỉnh điểm, làm bùng phát phong trào đấu tranh chính trị - xã hội rộng lớn của Phật giáo và các tầng lớp nhân dân đô thị năm 1963, làm tê liệt bộ máy cai trị và trực tiếp đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm đến sự sụp đổ tất yếu.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính:
- Làm rõ tính chất thiếu khách quan trong các báo cáo chính thức của chính quyền Sài Gòn: Phủ Tổng ủy Di cư đưa ra con số 928.850 dân và 133.276 công chức, trí thức di cư, nhưng tác giả chứng minh qua phân tích tư liệu độc lập của Trần Tam Tỉnh rằng số lượng thực tế là 543.500 giáo dân di cư (chiếm gần 2/3 tổng số người di cư).
- Chứng minh bằng số liệu lưu trữ về tình trạng "Công giáo hóa" trong quân đội: Đến tháng 9/1957, quân nhân Công giáo áp đảo với 30.529 người so với 5.445 quân nhân ngoài Công giáo (tỷ lệ chênh lệch gần 6 lần).
- Làm sáng tỏ các quyết sách hành chính ưu tiên tuyệt đối cho các tổ chức thanh niên, lực lượng vũ trang Công giáo địa phương qua văn bản pháp lý (Sắc lệnh 85-QP, Chỉ thị 108-TTP/TMBB/3 điều động 880 thanh niên Công giáo thụ huấn quân sự tại Sư đoàn 7).
Đóng góp của tác giả:
- Khóa luận là công trình chuyên khảo hệ thống hóa toàn diện các chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm trên cả 4 phương diện: chính trị - quân sự, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục và đối ngoại.
- Bổ sung vào hệ thống tư liệu lịch sử Việt Nam hiện đại chuỗi hồ sơ văn bản lưu trữ cấp 1 (hồ sơ 1256, 6216 tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II) cùng các sắc lệnh, nghị định tuyển mộ chức sắc tôn giáo phục vụ bộ máy quân sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn tài liệu hành chính về người di cư và phân bổ ngân sách giai đoạn 1954 - 1955 bị thất lạc một phần trong các cuộc giao tranh giữa quân đội chính phủ với lực lượng Bình Xuyên tại Sài Gòn, khiến một số thống kê phải dựa trên các ước tính gián tiếp. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các đô thị lớn và vùng Tây Nam Bộ, chưa bao quát đồng đều toàn bộ các tỉnh vùng sâu Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát các tài liệu lưu trữ ngoại giao liên quan đến mối quan hệ giữa Tòa thánh Vatican với chính quyền Ngô Đình Diệm giai đoạn 1955 - 1963, đồng thời so sánh chính sách tôn giáo của thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa với giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa (1967 – 1975) tại miền Nam Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Giảng viên, học viên, sinh viên các ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo học, Xã hội học và Chính trị học; các nhà nghiên cứu lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975.
- Phần nội dung đáng tham khảo: Hệ thống bảng biểu thống kê lực lượng quân nhân năm 1957 trích từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Sắc lệnh 85-QP, Dụ số 10, các Nghị định về Đoàn Tuyên úy quân đội) và chương phân tích cơ chế can thiệp của "Linh mục chế" vào bộ máy hành chính địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành văn bản pháp lý nào để chính thức thiết lập hệ thống tổ chức tôn giáo trong quân đội?
Chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành Sắc lệnh số 85-QP ngày 23/6/1956 quy định về việc tổ chức, tuyển mộ, kỷ luật, y phục và lương bổng của Đoàn Tuyên úy Công giáo trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
2. Tỷ lệ so sánh quân số giữa quân nhân Công giáo và quân nhân ngoài Công giáo (nguyên giáo) trong Quân đội Sài Gòn vào tháng 9/1957 như thế nào?
Theo thống kê tại Hồ sơ số 1256 thuộc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, tổng số quân nhân Công giáo là 30.529 người (gồm 562 sĩ quan, 1.529 hạ sĩ quan, 28.438 binh sĩ), gấp gần 6 lần so với 5.445 quân nhân ngoài Công giáo (gồm 249 sĩ quan, 1.445 hạ sĩ quan, 3.751 binh sĩ).
3. Nghị định số 1182-BKT/NTT/NĐ ban hành ngày 6/8/1961 quy định điều gì và phản ánh chính sách gì của chính quyền?
Nghị định quy định cấm mổ và bán thịt heo trên toàn lãnh thổ miền Nam vào 3 ngày mỗi tuần (thứ ba, thứ sáu và chủ nhật), kể cả thịt quay và thịt ướp lạnh. Quy định này thể hiện sự áp đặt tập tục ăn chay và sinh hoạt của Công giáo lên toàn thể xã hội.
4. Dụ số 10 được chính quyền Ngô Đình Diệm áp dụng nhằm mục đích gì đối với các tôn giáo tại miền Nam?
Dụ số 10 xếp tất cả các hiệp hội tôn giáo, văn hóa, từ thiện ngoài Công giáo vào diện hiệp hội thông thường, tước bỏ tư cách pháp nhân tôn giáo và cấm mua bất động sản nếu không có giấy phép riêng từ Phủ Tổng thống, trong khi đặt Công giáo ra ngoài phạm vi hạn chế của đạo dụ này.
5. Lực lượng vũ trang địa phương của linh mục Nguyễn Lạc Hóa tại Cà Mau có quy mô và trang bị như thế nào?
Lực lượng vũ trang Công giáo tại ấp Bình Hưng (Cà Mau) do linh mục Nguyễn Lạc Hóa chỉ huy có quân số khoảng 1.200 người, toàn bộ là tín đồ Công giáo, được chính quyền Diệm và cố vấn quân sự Mỹ viện trợ vũ khí tối tân và xây dựng sân bay riêng để phục vụ tác chiến.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đình Tùng là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh chân thực và có hệ thống chính sách đối với Công giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm giai đoạn 1955 – 1963. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử, logic kết hợp khai thác hiệu quả nguồn tư liệu lưu trữ cấp 1, đề tài đã chứng minh bản chất của chính sách tôn giáo thời Đệ nhất Cộng hòa là sự kết hợp giữa độc tài gia đình trị và ưu đãi tôn giáo phục vụ mục tiêu chính trị. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực, góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội năm 1963 và sự sụp đổ tất yếu của chế độ Ngô Đình Diệm.