CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA GIAI ĐOẠN 1955 – 1963 1. Quá trình hình thành và sự ra đời chính thể Cộng hoà Việt Nam Trước nguy cơ Pháp thất bại ở Đông Dương, Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Ngày 7/5/1954, Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ. Nhân cơ hội đó, Mỹ tăng cường lực lượng thế chân Pháp ở Đông Dương.
Ngô Đình Diệm (đang sống lưu vong) là sự lựa chọn của Mỹ để làm tay sai cho mình. Newcomb viết: “Đối với người Mỹ, Diệm là rất thích hợp. Ông là người Việt Nam thực sự, 54 tuổi chống Pháp, chống Cộng. Với một vài kinh nghiệm trong thời kỳ làm quan thuộc địa, và là một người Thiên Chúa giáo (không bao giờ chú ý đến Việt Nam có 85% dân số là Phật giáo)” [39; 29].
Để Ngô Đình Diệm trở thành tay sai đắc lực cho Mỹ, tháng 6/1954 Mỹ dùng viện trợ gây sức ép cho Pháp và Quốc trưởng Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm về nước làm thủ tướng. Ngày 16/6/1954, Quốc Trưởng Bảo Đại chính thức công bố cử Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng với toàn quyền hành động. Với toàn quyền hành động tức là mọi quyết định quan trọng liên quan đến Quốc gia Việt Nam thì Thủ tướng Ngô Đình Diệm không cần phải xin ý kiến của Quốc Trưởng Bảo Đại như những thủ tướng tiền nhiệm. Ngày 25/6/1954, Ngô Đình Diệm từ Pháp về phi trường Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), được sự tiếp đón nồng nhiệt theo nghi lễ ngoại giao của một số nhân viên đại diện các Bộ trong Chính phủ Bửu Lộc, một số sĩ quan cấp tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc phòng và bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam (TTM/QĐQGVN), cùng một số người thân thuộc dòng họ Ngô Đình và Nhân sĩ thân hữu của gia đình Ngô Đình Diệm.
Sau khi trở về nước, Ngô Đình Diệm tiếp xúc với các nhân sĩ để thành lập chính phủ. Ngày 7/7/1954, chính phủ của Ngô Đình Diệm chính thức được trình diện và bắt đầu tham chánh (xem phụ lục 4. Ngay sau khi Ngô Đình Diệm trình diện chính phủ mới đã vấp phải những tranh chấp quyết liệt từ hai giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo và lực lượng Bình Xuyên. 8 Để chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm, quân đội Cao Đài, Hoà Hảo liên kết với lực lượng Bình Xuyên lập ra “Mặt trận thống nhất toàn lực Quốc gia”.
Tổ chức này đòi quyền tham chánh, và ngày 21/3/1955, ép Thủ tướng Ngô Đình Diệm phải thay đổi nội các trong vòng năm ngày (thay đổi trước ngày 26/3). Cũng trong tháng 3, lực lượng Bình Xuyên tấn công Bộ Tổng tham mưu rồi bắn pháo vào Dinh Độc lập. Để phản công, quân chính phủ vây đánh Tổng nha Cảnh sát trên đại lộ Trần Hưng Đạo (Galliéni cũ) do Lại Văn Sang người của Bình Xuyên làm Tổng Giám đốc. Ngô Đình Diệm phải triệu hồi Đại tá Dương Văn Minh về Sài Gòn để chỉ huy quân đội chống lại những lực lượng chống đối.
Ngày 26/4/1955, Ngô Đình Diệm ra lệnh cắt chức Lại Văn Sang và cử Đại tá Nguyễn Ngọc Lễ vào thay thế, nhưng Lại Văn Sang không đồng ý. Lại Văn Sang muốn phải có lệnh của Quốc trưởng Bảo Đại ông mới tuân thủ theo lệnh của Ngô Đình Diệm. Trước những hành động của Ngô Đình Diệm, ngày 27/4/1955 quân Bình Xuyên mở đợt tấn công vào thành Cộng hoà và kêu gọi Quốc trưởng Bảo Đại can thiệp. Ngay sau đó, Bảo Đại ra lệnh cho Ngô Đình Diệm sang Pháp hội kiến.
Ngô Đình Diệm không những không hội kiến mà còn triệu tập Hội đồng Nội các để lấy ý kiến bác bỏ điện văn triệu tập của Bảo Đại. Tiếp đó, triệu tập phiên họp bất thường, dùng danh nghĩa “Đại hội các lực lượng quốc gia” lập kiến nghị phế truất Bảo Đại. Lập ra “Hội đồng Nhân dân Cách mạng” để đề xướng việc nhân dân phế Bảo Đại. Ngày 30/4/1955, một cuộc đụng độ lớn diễn ra giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên có sự hậu thuẫn của quân đội Cao Đài, Hoà Hảo.
Cuộc đụng độ gây hoả hoạn ở khu Nancy (Cầu Nguyễn Văn Cừ ngày nay) và Chợ Quán khiến 20.000 người phải sơ tán [63]. Sau cuộc đụng độ, chính phủ kiểm soát được các cửa ngõ quan trọng vào đô thành như cầu Chữ Y, cầu Tân Thuận, Khánh Hội… Lực lượng Bình Xuyên thua trận phải rút khỏi Sài Gòn, Chợ Lớn. Tháng 5/1955, nhóm chỉ huy lực lượng Bình Xuyên gồm Lê Văn Viễn, Lại Hữu Tài, Lại Văn Sang phải rút quân về Rừng Sát vì bị lực lượng chính phủ truy đuổi gắt gao. Đến cuối năm 1955, lực lượng Bình Xuyên hoàn toàn tan rã sau chiến dịch Hoàng Diệu.
Để giữ vững chỗ đứng, cũng trong năm 1955 chính phủ mở cuộc càn quét lực lượng vũ trang Hoà Hảo trong chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đánh vào Cái Vồn và Thốt Nốt. Ngày 5/6/1955, chỉ huy lực lượng Hoà Hảo là tướng Nguyễn Giác Ngộ 9 đầu hàng, một số tướng lĩnh khác như Lê Quang Vinh, Trần Văn Soái cầm cự đến năm 1956 thì thất bại. Từ đó, lực lượng Hoà Hảo mới chính thức tan rã. Lực lượng Cao Đài do hai tướng Trình Minh Thế và Nguyễn Thành Phương chỉ huy nhận thấy không chống được quân chính phủ nên lực lượng này gia nhập Hội đồng Cách mạng ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vào tháng 4 nên không đụng độ với quân chính phủ.
Bên cạnh việc thành lập chính phủ, Ngô Đình Diệm thực hiện một số chủ trương khác của Mỹ như: “Từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, từ chối việc tái lập quan hệ giữa hai miền Nam – Bắc; tổ chức tuyển cử riêng rẽ, bầu cử Quốc hội Lập hiến, ban hành hiến Pháp (26/10/1956), lập đảng Cần Lao nhân vị, Phong trào Cách mạng quốc gia, Thanh niên cộng hoà, Phụ nữ liên đới…” [39; 30]. Ngoài ra, chính quyền Ngô Đình Diệm còn ra sức khủng bố những người tán thành hoà bình, những người tham gia chống Diệm và những người đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ (1954) về việc chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Sỡ dĩ, Mỹ - Diệm không cho thi hành Hiệp định Giơnevơ vì Hiệp định này không có lợi cho Mỹ, ngược lại còn phản tác dụng đối với những ý đồ của Mỹ. Mỹ cho rằng: Hiệp định Giơnevơ không những không ngăn chặn được cộng sản, mà còn trao trả lại miền Bắc cho chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà năm 1954 và đến năm 1956 sẽ trả nốt miền Nam.
Chính vì vậy, Mỹ ngăn chặn việc thi hành Hiệp định Giơnevơ và thiết lập ở miền Nam Việt Nam một chế độ thân Mỹ. Ngô Đình Diệm lấy chiêu bài “chống Cộng” 1 coi “chống Cộng là quốc sách”, kiện toàn bộ máy đàn áp. Năm 1955, sau khi giải quyết xong những phe phái đối lập, Chính phủ Ngô Đình Diệm do Mỹ đứng sau đã tổ chức một cuộc tổng tuyển cử phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền, gọi là “Trưng cầu dân ý”. Nhiều tài liệu viết rằng đây là cuộc tuyển cử: “giả hiệu”, “đã an bài”, “có sắp xếp gian lận”… Những nhận định của những tài liệu viết trên hoàn toàn có cơ sở.
Thực tế, dưới sự chỉ đạo của Ngô Đình Nhu (Anh ruột Ngô Đình Diệm) và Trần Chánh Thành – Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc gia yêu cầu toàn bộ các cơ quan, đoàn thể từ trung 1 Cộng (Việt Cộng): là những người Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam. Dựa vào Quốc tế cộng sản để giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân. Hiện nay, từ “Việt Cộng” vẫn được sử dụng phổ biến trong sách báo, phim ảnh, tài liệu lịch sử của chế độ Việt Nam cộng hoà. 10 ương đến địa phương ký đơn theo mẫu có sẵn để truất phế Bảo Đại, suy tôn Ngô Đình Diệm.
Ngày 23/10/1955, cuộc “Trưng cầu dân ý” (xem phụ lục 2; hình 6) được tổ chức rầm rộ, dưới sự kiểm soát tối đa của cảnh sát, công an, mật vụ và thông tin. Nhân dân miền Nam bị ép buộc đi bỏ phiếu dưới sự áp đặt của chính quyền. Cuộc bỏ phiếu diễn ra với gần 6 triệu lá phiếu. Kết quả như sau: Bảng thống kê số phiếu trong cuộc “trưng cầu dân ý’’ phế truất Bảo Đại năm 1955 Lựa chọn Số phiếu Đồng ý phế truất Bảo Đại 5.735 Chống việc phế truất Bảo Đại 63.105 Nguồn: [64] (xem phụ lục 2; hình 5) Bằng cuộc trưng cầu dân ý gian lận, Ngô Đình Diệm đạt tỷ số tuyệt đối (98.2%) so với Quốc trưởng Bảo Đại (1.
Với kết quả đó, Hoa Kỳ và Ngô Đình Diệm đã gạt được Bảo Đại - phần tử thân cận nhất của Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam. Sau khi Bảo Đại bị phế truất, Ngô Đình Diệm thay thế Bảo Đại làm Quốc trưởng. Ngày 26/10/1955, Mỹ uỷ nhiệm cho Ngô Đình Diệm thành lập nước “Việt Nam Cộng hoà” theo khuôn mẫu “Tổng thống chế”2 của Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ. Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống của chính thể Việt Nam Cộng hoà (VNCH).
Khái quát chính quyền Ngô Đình Diệm Ngô Đình Diệm ngay sau khi làm Tổng thống, ông bắt đầu việc sơ thảo một Hiến pháp cho chính quyền mới (11/1955). Đứng đầu ngành hành pháp là Tổng thống với nhiệm kỳ 5 năm. Mỗi ứng cử viên được phép ra tranh cử ba nhiệm kỳ liên tiếp. Hỗ trợ ngành hành pháp là Nội các gồm 14 Bộ trưởng.
Lập pháp có Quốc hội 2 Tổng thống chế là hệ thống chính phủ mà trong đó có một ngành hành pháp tồn tại và “ngự trị” tách biệt khỏi ngành lập pháp. 11 chỉ có một viện duy nhất với 123 dân biểu (nhiệm kỳ ba năm chọn theo từng đợ vị bầu cử). Về tư pháp có Viện Bảo hiến để cân nhăc và xét duyệt những luật lệ ban hành cho phù hợp với Hiến Pháp. Toà phá án được xem là pháp đình tối cao trong hệ thống tư pháp của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Thời Tổng thống Diệm có một toà phá án ở Sài Gòn, hai toà thượng thẩm ở Sài Gòn và Huế. Mỗi tỉnh có một toà hoà giải và những cấp thấp hơn. Ngô Đình Diệm thi hành nhiều chính sách để kiện toàn bộ máy đàn áp của mình. Tháng 3/1955, thành lập Tổng uỷ “Công dân vụ”, chuyên lo việc đàn áp chính trị.
Ban hành nhiều luật lệ hà khắc, trong đó có dụ số 6 ban hành ngày 11/1/1956 về việc lập các trại tập trung để giam giữ những người thuộc các lực lượng chống đối, gây nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh Việt Nam Cộng hoà; Dụ số 13 ban hành ngày 20/2/1956, không cho quyền tự do báo chí.