Chương 1 Sau khi nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công chứng như: Khái niệm về các hình thức pháp lý của VPCC trong mô hình công chứng hành nghề tự do, học viên có những kết luận sau: 1. Công chứng với tư cách là một nghề chuyên nghiệp ra đời khá muộn ở Việt Nam do chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, lịch sử phát triển của đất nước. Chủ trương chuyển đổi từ mô hình công chứng bao cấp sang mô hình công chứng hành nghề tự do ở nước ta là bước đi rất đúng đắn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với xu thế chung của các nước trên thế giới. Chất lượng của VBCC phụ thuộc vào mức độ tuân thủ pháp luật, tuân thủ nguyên tắc hành nghề, quy tắc đạo đức của CCV chứ không phụ thuộc vào hình thức, cách thức tổ chức VPCC.
Điều đó có nghĩa hình thức TCHNCC không thể là thiết chế đảm bảo CCV không vi phạm pháp luật, cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp đối với cá nhân, tổ chức khi bị xâm phạm. Hình thức pháp lý của VPCC so với PCC chịu sự chi phối bởi chức năng quản lý của rất nhiều cơ quan giám sát và các Bộ Luật có liên quan hiện hành, VPCC có trách nhiệm quản lý CCV và thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do CCV gây ra dẫn tới việc vận hành và hoạt động của VPCC so với PCC còn rất nhiều bất cập và thiếu sót. 14 CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC PHÁP LÝ CỦA VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG HIỆN HÀNH – THỰC TRẠNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 2. Hình thức pháp Lý và thực trạng tình hình hoạt động của các Văn phòng công chứng theo quy định của pháp luật công chứng hiện hành 2.
Tiêu chuẩn thành lập VPCC Điều 22 LCC năm 2014 quy định về VPCC như sau: “1. Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh.Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên. Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn [17]. Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng là Trưởng Văn phòng.
Trưởng Văn phòng công chứng phải là công chứng viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên [18]. Tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc [19]. Văn phòng công chứng phải có trụ sở đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định. Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác [20].
Văn phòng công chứng sử dụng con dấu không có hình quốc huy. Văn phòng công chứng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định cho phép thành lập. Thủ tục, hồ sơ xin khắc dấu, việc quản lý, sử dụng con dấu của Văn phòng công chứng được thực hiện theo quy định của pháp luật về con dấu” [21]. 15 Căn cứ vào các nội dung quy định pháp luật trên về công chứng cũng như các chính sách quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ tại các địa phương khác trong cả nước, có thể xác định các điều kiện cụ thể để có thể thành lập một VCCP như sau: (i) Điều kiện về loại hình công ty và thành viên sáng lập VPCC phải được tổ chức theo loại hình doanh nghiệp là công ty hợp danh với các quy định cụ thể của pháp luật về doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất 02 thành viên hợp danh là CCV được bổ nhiệm và cấp chứng chỉ hành nghề theo đúng pháp luật về công chứng, nói cách khác, để có thể thành lập một VPCC, các cá nhân phải liên kết, hợp tác với ít nhất 02 CCV hợp pháp và thoả thuận thành lập VPCC hoặc các CCV có thể hợp tác với nhau để thành lập VPCC vói tư cách là một doanh nghiệp, tổ chức mà các thành viên sẽ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình với tất cả các nghĩa vụ của văn phòng.
Điều 8, Điều 9 Luật công chứng năm 2014 và Thông tư 01/2021/TT- BTP có quy định và hướng dẫn về tiêu chuẩn công chứng viên [23]. Theo đó để trở thành công chứng viên, cá nhân phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: - Phải là công dân Việt Nam, đăng ký hộ khẩu thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam. - Có phẩm chất đạo đức tốt, tuân thủ pháp luật. - Có bằng cử nhân luật và sau đó đã có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức.
- Trình độ học vấn phải là cử nhân luật đã tốt nghiệp có xác nhận của các đơn vị giáo dục, đồng thời bản thân cũng đã có thời gian công tác liên quan đến lĩnh vực pháp luật tại các đơn vị, cơ quan, tổ chức tối thiểu là 5 năm. - Theo học khoá đào tạo chứng chỉ hành nghề công chứng trong vòng 12 và đã tốt nghiệp, đồng thời hoàn thành khoá bồi dương hành nghề công chứng trong thời gian 3 tháng tại các đơn vị trực thuộc Học viện tư pháp. Và được xác nhận đã đảm bảo yêu cầu hành nghề công chứng. - Có đủ sức khỏe để hành nghề.
16 (ii) Điều kiện về người đại diện theo pháp luật Người đại diện theo pháp luật của VPCC là thành viên hợp danh, là CCV được bổ nhiệm theo quy định, đã hành nghề công chứng với tư cách CCV từ 02 năm trở lên và giữ chức vụ là Trưởng Văn phòng. (iii) Điều kiện về trụ sở Theo hướng dẫn tại các văn bản pháp luật về công chứng, để đáp ứng điều kiện hành nghề công chứng, trụ sở chính của VPCC phải đảm bảo đủ các điều kiện sau: - Địa chỉ trụ sở chính phải được xác định theo địa giới hành chính Việt Nam, đủ 4 cấp (số nhà, tên đường, khu phố, cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh), khu vực làm việc của CCV và người lao động phải đáp ứng tối thiểu điều kiện về tiêu chuẩn diện tích sử dụng cho các đơn vị sư nghiệp, phải có khu vực chờ cho người yêu cầu công chứng cũng như có khu vực đảm bảo các điều kiện lưu trữ. - Các thành viên hợp danh là CCV phải nộp các giấy tờ chứng minh về trụ sở (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở, hợp đồng thuê nhà,…) tại thời điểm đăng ký hoạt động với Sở Tư pháp. - Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra việc đáp ứng các điều kiện về trụ sở của Văn phòng công chứng khi thực hiện đăng ký hoạt động cho Văn phòng công chứng.
(iv) Điều kiện về con dấu Theo điều 22 LCC năm 2014, VPCC phải có con dấu riêng, con dấu này không có hình quốc huy. Văn phòng công chứng được khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định cho phép thành lập. Khác với doanh nghiệp có thể tự do khắc con dấu mà không cần phải thông báo với Sở Kế hoạch – Đầu tư, việc khắc con dấu của VPPC bắt buộc phải thông báo đến Sở Tư Pháp thông qua thủ tục và hồ sơ theo quy định của pháp luật về con dấu và công chứng. [25] (v) Điều kiện về tài sản Giống với doanh nghiệp thông thường, VPCC phải mở một tài khoản ngân hàng riêng và thông báo tài khoản ngân hàng của mình cho Sở Tư pháp và cơ quan thuế theo quy định của pháp luật để đảm bảo nguyên tắc tự chủ về 17 tài chính của các văn phòng đại diện cũng như có cơ sở để các cơ quan quản lý có thể kiểm tra, theo dõi các nguồn thu của VPCC.
Như vậy, văn phòng công chứng là một pháp nhân có tài sản độc lập với chủ sở hữu. (vi) Điều kiện về tên gọi Mặc dù với tư cách một doanh nghiệp được thành theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, tuy nhiên khác với các công ty hợp danh thông thường, các VPCC chịu nhiều sự giới hạn hơn, nói cách khác, có những quy định của pháp luật về công chứng mà bắt buộc các VPCC phải tuân theo khi đăng ký thành lập VPCC, điều này đi ngược với quyền của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2020. Chẳng hạn, về tên doanh nghiệp, theo quy định tại khoản 3 Điều 22 Luật Công chứng năm 2014 thì “Tên gọi của văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của trưởng văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc” [26]. Ví dụ, tên gọi của văn phòng công chứng phải là “Văn phòng công chứng Nguyễn Văn A”, trong đó ông A là một thành viên hợp danh và chưa có tổ chức hành nghề công chứng nào lấy tên Nguyễn Văn A hoặc có thể nhầm lẫn với tên Nguyễn Văn A trước đó.
Thực tế cho thấy quy định đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế cho chính văn phòng công chứng, khách hàng và cả cơ quan quản lý nhà nước. Đó là, chưa có quy định xử lý trường hợp trùng tên của văn phòng công chứng, tên của cá nhân hoàn toàn có thể trùng nhau, như vậy nếu tên của văn phòng công chứng này mà trùng với tên của văn phòng công chứng khác thì tên của các văn phòng công chứng trong các trường hợp này sẽ xác định như thế nào? Pháp luật không quy định ngoại lệ cách đặt tên văn phòng công chứng trong trường hợp này. Một hạn chế nữa là quy định đổi tên làm phát sinh thêm thủ tục hành chính. Cụ thể, nếu có CCV có tên được đặt làm tên của VPCC không còn là thành viên hợp danh của đơn vị nữa thì VPCC đó phải thực hiện thêm thủ tục 18 đổi tên VPCC.