Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn cải cách tư pháp tại Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã tạo ra bước ngoặt lớn cho lĩnh vực bổ trợ tư pháp, đặc biệt là hoạt động công chứng. Tính đến năm 2020, sau hơn 5 năm triển khai Luật Công chứng năm 2014, cả nước đã chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình công chứng bao cấp sang mô hình hành nghề tự do. Tại tỉnh Bắc Ninh, quá trình xã hội hóa ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc khi số lượng tổ chức hành nghề công chứng tăng từ 3 đơn vị với 7 công chứng viên trước năm 2008 lên 25 tổ chức với gần 50 công chứng viên vào năm 2020, phủ kín 8/8 đơn vị hành chính cấp huyện. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng này cũng bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng về khung thể chế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ việc Luật Công chứng năm 2014 giới hạn Văn phòng công chứng chỉ được hoạt động duy nhất dưới loại hình công ty hợp danh không có thành viên góp vốn, gây khó khăn cho việc quản trị, chuyển nhượng và duy trì hoạt động liên tục. Luận văn thạc sĩ ngành Luật Kinh tế của học viên Lê Đăng Linh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Trung Tín tại Trường Đại học Mở Hà Nội (năm 2021), tập trung làm sáng tỏ bản chất hình thức pháp lý của Văn phòng công chứng, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn hoạt động tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015-2021. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực chứng để tháo gỡ khó khăn cho 23 Văn phòng công chứng trên địa bàn, đồng thời đề xuất sửa đổi luật nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa rủi ro cho hơn 90% các giao dịch dân sự, kinh tế và bất động sản tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên hai lý thuyết nền tảng: lý thuyết dịch vụ công trong kinh tế học pháp lý và lý thuyết chủ thể kinh doanh trong luật thương mại. Theo trường phái công chứng Latinh, công chứng viên đóng vai trò là "thẩm phán phòng ngừa", nhân danh quyền lực công được Nhà nước ủy thác để xác thực tính hợp pháp của các giao dịch. Nghiên cứu xây dựng mô hình phân định rạch ròi giữa hai yếu tố: chức năng hành nghề chuyên môn độc lập của cá nhân công chứng viên và tư cách tổ chức hỗ trợ hành nghề của Văn phòng công chứng.

Năm khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt công trình bao gồm:

  1. Công chứng (chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch và bản dịch theo Điều 2 Luật Công chứng năm 2014).
  2. Tổ chức hành nghề công chứng (gồm Phòng công chứng công lập và Văn phòng công chứng tư nhân).
  3. Văn phòng công chứng (tổ chức dịch vụ công hoạt động theo loại hình công ty hợp danh).
  4. Công chứng viên hợp danh (thành viên chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản cá nhân đối với mọi nghĩa vụ của văn phòng).
  5. Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh (mối quan hệ giữa tài sản độc lập của doanh nghiệp và trách nhiệm vô hạn của thành viên).

Phương pháp nghiên cứu

Công trình áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích sự phát triển của thiết chế công chứng phù hợp với từng giai đoạn chuyển đổi kinh tế thị trường. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học đối chiếu Luật Công chứng năm 2006 với Luật Công chứng năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020, cùng phương pháp tổng kết thực tiễn tư pháp.

Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2015-2020 của Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh, Nghị quyết số 677/QĐ-UBND thành lập Hội Công chứng viên tỉnh Bắc Ninh năm 2019 và Quyết định số 25/2019/QĐ-UBND về tiêu chí xét duyệt hồ sơ thành lập văn phòng. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 25 tổ chức hành nghề công chứng (2 Phòng công chứng và 23 Văn phòng công chứng) cùng 48 công chứng viên được cấp thẻ hành nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm bảo đảm tính bao quát tuyệt đối trên toàn bộ 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh trong suốt dòng thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tiến trình xã hội hóa tại Bắc Ninh đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng nhưng tiềm ẩn nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Trước năm 2008, toàn tỉnh chỉ có 3 Phòng công chứng nhà nước với 7 công chứng viên. Đến tháng 10 năm 2014, số lượng tăng lên 14 tổ chức (3 Phòng công chứng, 11 Văn phòng công chứng) với hơn 20 công chứng viên, và đến năm 2020 đã đạt 25 tổ chức (2 Phòng công chứng, 23 Văn phòng công chứng) với 48 công chứng viên hoạt động thực tế. Sự bùng nổ này giúp số lượng tổ chức tăng hơn 700% so với trước năm 2008, giải quyết kịp thời nhu cầu công chứng ngày càng cao của các khu công nghiệp trọng điểm.

Thứ hai, mô hình công ty hợp danh bắt buộc từ 2 công chứng viên trở lên và tuyệt đối không có thành viên góp vốn (Điều 22 Luật Công chứng năm 2014) bộc lộ sự bất cập sâu sắc. Khi phát sinh bất đồng nội bộ giữa 2 công chứng viên hợp danh hoặc khi 1 thành viên qua đời, bị miễn nhiệm mà không tìm được người thay thế, văn phòng buộc phải chấm dứt hoạt động. Việc cấm thành viên góp vốn triệt tiêu nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng và không phản ánh đúng thực tế khi nhiều văn phòng vẫn phải huy động vốn ngầm.

Thứ ba, quy định đặt tên Văn phòng công chứng theo tên công chứng viên hợp danh gây lãng phí lớn và tiềm ẩn rủi ro nhận diện. Khi công chứng viên đứng tên chuyển nhượng văn phòng hoặc rút vốn, tổ chức phải thực hiện lại 100% thủ tục đổi tên, khắc lại con dấu, đổi mã số thuế và thay biển hiệu. Việc này còn làm gián đoạn khả năng tra cứu hồ sơ lưu trữ bắt buộc tối thiểu 20 năm của người dân.

Thứ tư, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm chuyên môn diễn biến phức tạp. Khảo sát chỉ ra các hiện tượng tiêu cực như: trích hoa hồng trái phép cho cán bộ tín dụng ngân hàng, thực hiện công chứng ngoài trụ sở không đúng quy định, công chứng thiếu bản chính, "công chứng treo" các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để tiếp tay cho hành vi trốn thuế hoặc các giao dịch tín dụng đen.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên có thể được hệ thống hóa trực quan qua bảng phân bổ các tổ chức hành nghề công chứng tại 8 đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh và biểu đồ so sánh cơ cấu: khối tư nhân chiếm 92% (23 văn phòng) trong khi khối sự nghiệp công lập chỉ còn chiếm 8% (2 phòng).

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật chuyên ngành công chứng với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2020. Việc bãi bỏ quy hoạch tổ chức hành nghề công chứng theo Luật Quy hoạch năm 2017 mà thiếu đi bộ tiêu chí kiểm soát chất lượng đã dẫn đến tình trạng phát triển ồ ạt tại đô thị nhưng bỏ trống vùng sâu. Hơn nữa, có khoảng 30% công chứng viên trên địa bàn là cán bộ hưu trí từ ngành Tòa án, Viện kiểm sát, Công an chuyển sang, được miễn đào tạo nghề và đã trên 65 tuổi, dẫn đến sự hạn chế trong việc cập nhật công nghệ thông tin và áp dụng các quy chuẩn số hóa hồ sơ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đa dạng hóa hình thức pháp lý cho Văn phòng công chứng trong Luật Công chứng sửa đổi giai đoạn 2022-2025. Quốc hội và Bộ Tư pháp cần bổ sung mô hình doanh nghiệp tư nhân do 1 công chứng viên làm chủ (đặc biệt phù hợp cho vùng nông thôn, miền núi) và cho phép mô hình công ty hợp danh có thành viên góp vốn hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ pháp lý, tách bạch rõ nghĩa vụ bồi thường cá nhân của công chứng viên với tài sản của tổ chức.

Thứ hai, sửa đổi Điều 22 Luật Công chứng năm 2014 về quy định đặt tên văn phòng trước năm 2024. Cần cho phép các công chứng viên tự do lựa chọn tên thương mại theo quy định của Luật Doanh nghiệp, loại bỏ yêu cầu bắt buộc lấy tên công chứng viên hợp danh để bảo vệ giá trị thương hiệu và giảm 100% chi phí hành chính khi thay đổi nhân sự.

Thứ ba, bổ sung tiêu chuẩn trần độ tuổi hành nghề dưới 70 tuổi tại Điều 8 Luật Công chứng năm 2014. Quy định này đảm bảo công chứng viên có đủ sức khỏe và sự minh mẫn. Đồng thời, Bộ Tư pháp cần xây dựng quy chế "Công chứng viên dự khuyết" để kịp thời tiếp quản, duy trì 100% hoạt động của văn phòng trong thời hạn 30 ngày khi xảy ra biến cố khuyết thành viên hợp danh.

Thứ tư, đẩy nhanh lộ trình xã hội hóa 100% các Phòng công chứng công lập tại tỉnh Bắc Ninh đến năm 2026. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Sở Tư pháp cần sớm ban hành đề án chuyển đổi 2 Phòng công chứng số 1 và số 2 thành Văn phòng công chứng, đồng thời tăng cường thanh tra định kỳ hằng quý, xử lý nghiêm hành vi trích thù lao môi giới và công chứng sai quy định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tư pháp, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể sử dụng luận văn làm cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng dự thảo Luật Công chứng sửa đổi.

Thứ tư, đội ngũ công chứng viên, các Trưởng văn phòng công chứng trên toàn quốc có thể tham khảo công trình để nhận diện các rủi ro pháp lý trong mô hình công ty hợp danh, từ đó hoàn thiện quy chế quản trị nội bộ và cơ chế phân định trách nhiệm tài sản giữa các thành viên.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật có thể sử dụng tài liệu này phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về chế định bổ trợ tư pháp và dịch vụ công.

Thứ tư, các tổ chức tín dụng, văn phòng đăng ký đất đai và doanh nghiệp bất động sản có thể tham khảo để nâng cao năng lực thẩm định tính hợp pháp của các văn bản công chứng, phòng ngừa rủi ro tranh chấp trong các hợp đồng thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Câu hỏi thường gặp

Thứ nhất, tại sao Luật Công chứng năm 2014 chỉ cho phép Văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình công ty hợp danh? Quy định này nhằm đảm bảo tính liên tục của tổ chức và ràng buộc trách nhiệm vô hạn của công chứng viên đối với an toàn pháp lý của giao dịch. Tuy nhiên, thực tế tại Bắc Ninh cho thấy mô hình này làm hạn chế khả năng thành lập văn phòng tại vùng xa, nơi nhu cầu công chứng chỉ bằng khoảng 30% đến 40% khu vực đô thị.

Thứ hai, việc cấm thành viên góp vốn trong Văn phòng công chứng gây ra những trở ngại gì? Quy định làm mất đi kênh huy động vốn hợp pháp phục vụ đầu tư cơ sở vật chất ban đầu từ 500 triệu đến nhiều tỷ đồng. Khi một thành viên qua đời, việc xử lý phần vốn góp của người thừa kế không phải là công chứng viên gặp bế tắc, dễ dẫn đến tranh chấp làm tê liệt hoạt động văn phòng.

Thứ ba, tại sao việc đặt tên Văn phòng công chứng theo tên công chứng viên lại bất cập? Cách đặt tên này làm phát sinh hàng loạt thủ tục đăng ký lại con dấu, tài khoản thuế khi thay đổi thành viên hợp danh. Trường hợp Văn phòng công chứng Thiên Đức tại Bắc Ninh (tiền thân là Thăng Long) phải đổi tên do trùng tên với 4 văn phòng khác trên cả nước là minh chứng cho sự bất cập về nhận diện thương hiệu.

Thứ tư, vì sao cần thiết lập độ tuổi trần hành nghề cho công chứng viên? Hoạt động công chứng đòi hỏi sự cẩn trọng, cập nhật liên tục các quy định pháp luật mới và thao tác trên hệ thống cơ sở dữ liệu số. Việc nhiều công chứng viên trên 65 tuổi hoặc hơn 70 tuổi hành nghề tại Bắc Ninh dẫn đến khó khăn trong xử lý công nghệ và tiềm ẩn nguy cơ sai sót nghiệp vụ.

Thứ năm, giải pháp nào giúp hạn chế vi phạm công chứng ngoài trụ sở trái phép? Sở Tư pháp cần tăng cường ứng dụng phần mềm quản lý hồ sơ trực tuyến, liên thông cơ sở dữ liệu giữa 25 tổ chức hành nghề với cơ quan đăng ký đất đai, đồng thời duy trì đường dây nóng tiếp nhận phản ánh để xử lý dứt điểm các điểm giao dịch trái phép.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hình thức pháp lý của Văn phòng công chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển vượt bậc của 25 tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008-2020.
  • Vạch rõ những điểm nghẽn thể chế cốt lõi trong Luật Công chứng năm 2014 gồm mô hình công ty hợp danh đơn nhất, quy định đặt tên bất cập và sự thiếu hụt quy chế độ tuổi hành nghề.
  • Đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại địa phương giai đoạn 2022-2026.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho lộ trình sửa đổi toàn diện Luật Công chứng Việt Nam trong thời gian tới.

Mời các chuyên gia, nhà quản lý và độc giả quan tâm tham khảo chi tiết toàn văn luận văn để cùng thảo luận và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động bổ trợ tư pháp tại Việt Nam.