Chương 1 tác giả nghiên cứu cơ sở các lý thuyết vận dụng của luận án làm tiền đề định hướng cho việc hoàn thiện quy định pháp luật về các hình thức di chúc. Mặt khác, để xác định được các vấn đề cần nghiên cứu của luận án tác giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án Để xác định những vấn đề cần được tiếp tục triển khai nghiên cứu trong luận án nhằm đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả tổng quan những công trình khoa học nghiên cứu về di chúc, hình thức di chúc trên phương diện lý luận và thực trạng pháp luật ở trong nước và ngoài nước. Nghiên cứu về hình thức di chúc phải xuất phát từ việc nghiên cứu về bản chất pháp lý của di chúc để nhận thức rõ những đặc trưng cơ bản của di chúc cũng như vai trò, ý nghĩa pháp lý của di chúc đối với mục tiêu bảo vệ sự đoàn kết gia đình, ổn định trật tự, đạo đức xã hội cũng như bảo vệ ý chí của người lập di chúc và bảo vệ quyền thừa kế của người thừa kế theo di chúc.
Khi làm rõ được bản chất pháp lý và vai trò, ý nghĩa của di chúc sẽ xác định được vai trò, nhiệm vụ của hình thức di chúc và sẽ có những định hướng nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm đảm bảo được nhiệm vụ đặt ra cho pháp luật về hình thức di chúc. Nhóm các công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận của hình thức di chúc Thứ nhất, về khái niệm di chúc và bản chất pháp lý của di chúc Quan hệ pháp luật về thừa kế theo di chúc đã được ghi nhận từ thời kỳ La Mã và đã có nhiều công trình nghiên cứu về thừa kế theo di chúc trong luật La Mã. Cuốn sách “Introduction to Roman Law” (tạm dịch ra tiếng Việt là Giới thiệu về Luật La Mã) của tác giả Barry Nicholas được nhà xuất bản (Nxb) Oxford University Press phát hành năm 2017 đã có đề cập đến vấn đề thừa kế thời kỳ La Mã. Di chúc của người La Mã được phát triển từ rất sớm.
Ở những nơi khác, sự phát triển này là muộn, nhưng ở Rome ngay trong Luật Mười hai bảng đã tồn tại nhiều hình thức di chúc. Đặc biệt để xem đây là một di chúc khi nó phải có các yếu tố sau: (i) di chúc chỉ định một chủ thể thừa kế bất kỳ, chủ thể này có thể là bất kỳ ai đó không giới hạn phải là người thừa kế trong gia đình dòng tộc; (ii) di chúc có thể có phần di tặng ngoài phần di sản và có thể chứa đựng những nội dung khác như bổ nhiệm người quản lý hoặc quản lý nô lệ; (iii) di chúc được xem là lời nói từ cái chết (ví dụ: di chúc có thể đặt ra các điều kiện khi được hưởng di sản); (iv) di chúc có thể bị hủy bỏ. 10 Bài viết của tác giả Rafael Domingo công bố ngày 19 tháng 7 năm 2017 “The Roman Law of Succession - An overview” (tạm dịch ra tiếng Việt là Luật thừa kế La Mã - góc nhìn tổng quan) đăng trên tạp chí SSRN Electronic Journal. Di chúc là một hành vi pháp lý trong đó một công dân La Mã tuyên bố mong muốn của mình sau khi chết.
Ý chí trong di chúc để xác định một người thừa kế xứng đáng, người sẽ mang lại sự phát triển cho gia đình và, theo một nghĩa nào đó, cho nhân cách của người đã chết. Di chúc cũng được sử dụng để chia các phần không đồng đều cho các gia đình khác nhau của những người thừa kế, dùng để trả nợ cho các chủ nợ và thưởng cho những người thân trung thành, bạn bè, người hầu. Nói chung, luật La Mã dành cho người lập di chúc một mức độ tự do cao trong việc định đoạt tài sản. Di chúc có thể bao gồm các định đoạt quan trọng, chẳng hạn như di sản và các nội dung khác như bổ nhiệm các gia sư và quản lý nô lệ.
Nhưng nguồn cội của nội dung di chúc trong luật La Mã là việc chỉ định một hoặc một số người thừa kế và đây chính là nội dung bắt buộc phải có trong di chúc. Nếu di chúc không có người thừa kế được chỉ định hoặc những người thừa kế không nhận di sản thì toàn bộ di chúc không thành. Giáo trình “Giáo trình Luật La Mã” của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nxb Công an nhân dân xuất bản năm 2003 đề cập đến cách hiểu di chúc trong thời kỳ La Mã. Di chúc là quyết định của người có tài sản sau khi chết sẽ chuyển tài sản của mình cho người thừa kế.
Theo luật cổ La Mã thì việc chỉ định người thừa kế phải được ghi vào phần đầu của di chúc và đây là nội dung quan trọng của di chúc. Nếu không ghi rõ ai là người được hưởng thừa kế thì di chúc sẽ vô hiệu. Di chúc là giao dịch một bên vì nó thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc và người này có quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào. Chính vì vậy, di chúc chỉ có giá trị pháp lý nếu người được chỉ định trong di chúc thể hiện ý chí là nhận thừa kế theo di chúc đó.
Di chúc không được coi là một khế ước, bởi vì người thừa kế thể hiện ý chí của mình sau khi người lập di chúc đã chết. Hành vi của người lập di chúc với hành vi của người thừa kế theo di chúc độc lập với nhau. Giáo trình “Giáo trình Luật La Mã” của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, Trường Đại học Cần Thơ do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 2009 xác định ở La Mã, việc di chuyển di sản theo pháp luật hiếm khi được áp dụng do người có di sản thường lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Di chúc có tác dụng công khai ý chí của người có di sản liên quan đến việc chuyển giao tài sản của mình sau khi chết.
Hiện nay, cách hiểu về di chúc được các công trình diễn giải như sau: Cuốn sách “Law of succession” (tạm dịch ra tiếng Việt là Luật thừa kế) của tác giả Musyoka, William, được Nxb African Books Collective xuất bản năm 2006 đã có phân tích về bản chất pháp lý mối quan hệ của pháp luật thừa kế với Luật Hôn nhân gia đình, với Luật về tài sản. Trong đó, di chúc được xác định là một văn bản không có hiệu lực pháp luật đến khi người lập di chúc chết. Khi người lập di chúc còn sống, di 11 chúc không làm hạn chế quyền sở hữu đối với tài sản của họ và cũng không mang lại lợi ích cho những người đã được đề cập trong di chúc hoặc bất kỳ ai khác. Do đó đặc điểm của di chúc là (i) chỉ có hiệu lực sau khi người lập di chúc chết; (ii) các mong muốn được thể hiện nhằm mục đích định đoạt tài sản sau khi chết; (iii) một di chúc có thể thay đổi được hoặc hủy bỏ được khi người lập di chúc còn sống.
Cuốn sách “Succession Law, Law Essentials” (tạm dịch ra tiếng Việt là Luật thừa kế, Luật cần thiết) được viết năm 2020 do Nxb University of Sherbroke phát hành của tác giả Mc Carthy Frankie đưa ra cách hiểu về di chúc dựa trên những điều kiện của di chúc. Di chúc là sự dịch chuyển tài sản cho những người thụ hưởng có tên trong di chúc. Di chúc hợp pháp cần cả điều kiện về nội dung di chúc và hình thức di chúc. Trong đó nội dung di chúc cần được ghi nhận một cách chính xác và hình thức di chúc sẽ đảm bảo mục đích này.
Giáo trình “Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và thừa kế” của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh được Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam xuất bản năm 2019 đã có khái niệm sau về di chúc: Di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân lúc còn sống về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết một cách tự nguyện, theo một hình thức, thể thức luật định, có thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ bất cứ lúc nào bởi người lập di chúc khi người đó còn sống. Di chúc chỉ có hiệu lực sau khi người lập di chúc chết. Giáo trình “Luật Dân sự Việt Nam - Tập 1” của Trường Đại học Luật Hà Nội được Nxb Công an nhân dân xuất bản năm 2019 xác định di chúc phải có các yếu tố đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác; mục đích của việc lập di chúc là chuyển di sản của mình cho người khác; chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết. Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng.
Giáo trình “Luật Hôn nhân và gia đình - Quan hệ tài sản vợ chồng, thừa kế, Tập 2” của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh được Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2021 đã có phân tích sau về di chúc: Di chúc được hiểu là cách chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt tài sản trong trường hợp đặc thù, định đoạt có điều kiện, cho tương lai. Định đoạt bằng di chúc có điều kiện do di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết, người lập di chúc có quyền sửa đổi nội dung di chúc, hủy bỏ di chúc chừng nào còn sống, còn minh mẫn. Di chúc là định đoạt tài sản trong tương lai cũng bởi vì định đoạt không có hiệu lực ngay lập tức. Do việc định đoạt trong di chúc là cho tương lai nên hành vi định đoạt tài sản không chịu sự chi phối của những quy định áp dụng cho định đoạt tài sản trong hiện tại.
Mặt khác, tính chất của di chúc là giao dịch một bên bởi đây là hệ quả của sự bày tỏ ý chí của người lập di chúc. Tất nhiên, để sự chuyển giao hoàn thành thì 12 sự chấp nhận của người thụ hưởng là cần thiết. Tuy nhiên, để di chúc phát sinh hiệu lực, sự bày tỏ ý chí của người lập di chúc là đủ. Ngoài ra, di chúc là giao dịch của cá nhân.
Luận án tiến sĩ “Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam” của tác giả Phạm Văn Tuyết thực hiện năm 2003 tại Trường Đại học Luật Hà Nội.