Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THEO DI CHUC 1. QUAN NIEM VỀ THỪA KẾ Là một thực thể trong xã hội, con người không thể tồn tại và phát triển nếu tách rời những cơ sở vật chất nhất định. Nói cách khác, con người không thể sống khi không có tài sản để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu. Nếu tư liệu tiêu dùng là phương tiện sinh hoạt, tư liệu sản xuất là phương tiện để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh thì tài sản nói chung là phương tiện sống của con người.
Khi sống, con người khai thác công dụng của tài sản để thỏa mãn cho nhu cầu của mình, khi chết, tài sản còn lại của họ được dịch chuyển cho người còn sống. Quá trình dịch chuyển đó được gọi là thừa kế. Nhìn nhận một cách tổng quan nhất thì "thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống". Về mặt ngữ nghĩa thì thừa kế là thừa hưởng một cách kế tục.
Theo phương diện này, Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa: "Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho" [56]. Về mặt nội dung thì thừa kế là quá trình dich chuyển di san từ người chết cho người còn sống. Quá trình dịch chuyển di sản của người đã chết cho người còn sống được hình thành ở bất cứ một xã hội nào và dĩ nhiên, khi chưa có nhà nước và pháp luật, nó được thực hiện theo tập tục xã hội nên được gọi là thừa kế. Khi nhà nước xuất hiện, bằng pháp luật, Nhà nước tác động đến quá trình dịch chuyển di sản nói trên, trong đó, quyền để lại di sản cũng như quyền hưởng di sản của các chủ thể được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật nên từ đó, quá trình dịch chuyển di sản được gọi là quyền thừa kế.
Nói cách khác, khái niệm quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý mà nội dung của nó là xác định phạm vi các quyền, các nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực ( | II thừa kế. Quyền thừa kế chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội đã có nhà nước. Bên cạnh nội dung kinh tế, quyền thừa kế còn bao hàm ý chí của Nhà nước. Nghĩa là việc dịch chuyển di sản của người đã chết cho người còn sống phải hoàn toàn tuân thủ sự quy định của pháp luật.
Thừa kế và mối quan hệ giữa thừa kế với sở hữu Theo Từ điển Tiếng Việt: "Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho” thì thừa kế được hiểu là sự tiếp nối giữa việc để lại di sản của người đã chết với việc nhận di sản của người còn sống. Qua đó chúng ta thấy rằng, thừa kế bao giờ cũng là hệ luận của quyền sở hữu, có sở hữu mới có thừa kế. Thừa kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế tồn tại song song trong mọi hình thái kinh tế xã hội. Trong phạm vi một chế độ xã hội, hai phạm trù này gắn bó chặt chẽ với nhau, mỗi phạm trù là tiền dé và cũng chính là hệ quả đối với nhau.
Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để từ đó làm xuất hiện thừa kế thì đến lượt mình, thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và xác định quan hệ sở hữu. Với tư cách là hệ luận của vấn đề sở hữu, thừa kế xuất hiện trong xã hội loài người như một hiện tượng tất yếu. Nếu quan hệ sở hữu cho thấy tài sản trong xã hội thuộc về ai, ai có quyền chiếm hữu thì thừa kế phản ánh quá trình địch chuyển tài sản của người đó ra sao, nếu họ chết. Với mối quan hệ biện chứng giữa thừa kế và sở hữu, chúng ta thấy rằng, khi nào xuất hiện vấn đề sở hữu thì khi đó đồng thời xuất hiện vấn đề thừa kế.
Bất cứ chế độ xã hội nào cũng đều phải tồn tại trên một cơ sở kinh tế nhất định, nghĩa là sự tồn tại của xã hội bao giờ cũng phải dựa trên một chế độ sở hữu. Vì vậy, sở hữu là một quan hệ tất yếu đối với sản xuất và do đó đối với mọi xã hội. Trong một tác phẩm của mình, C. Mác đã chỉ ra rằng: "Bất cứ nền sản xuất nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong một phạm vi, một hình thái xã hội nhất định và thông qua hình thái đó”, "Nơi nào không có một hình thái sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do đó cũng không có một xã hội nào cả” [36 tr.
12 Quan hệ sở hữu luôn mang một nội dung kính tế. Trong một xã hội nhất định, quan hệ sở hữu phản ánh mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa tập đoàn này với tập đoàn khác, giữa giai cấp này với giai cấp khác về việc nắm giữ các tư liệu sản xuất và các vật phẩm tiêu dùng. Ngay trong buổi bình minh của xã hội loài người, dù ý thức về xã hội, về cộng dồng còn hạn chế nhưng con người nguyên thủy đã biết chiếm giữ những gì mà mình có được để phục vụ cho nhu cầu của mình. Nghĩa là vấn dé sở hữu xuất hiện ngay từ thời kỳ đó.
Tuy nhiên, trong thời kỳ đó "chưa có sự phân biệt rõ rệt về khái niệm "sở hữu” đối với tư liệu sản xuất và sức lao dong" [27, tr. Như chúng ta đã biết, cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thủy là chế độ sở hữu cộng đồng về tư liệu sản xuất và các sản phẩm lao động. Ở thời kỳ này, tài sản mà con người chiếm hữu được chỉ là những công cụ lao động thô sơ và chỉ là những vật phẩm của tự nhiên mà con người thu nhận được thông qua việc săn bắn, hái lượm. Mặt khác, sự nhận thức của con người trong thời kỳ này còn hết sức thấp kém.
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ, con người chưa có sự nhận thức đúng đắn về thiên nhiên và về bản thân mình, họ luôn luôn trong tình trạng mềm yếu, hoảng sợ và bất lực trước những tai họa của thiên nhiên thường xuyên xảy ra, năng suất lao động thấp. Trong những điều kiện và hoàn cảnh đó, con người không thể sống riêng biệt mà phải dựa vào nhau, cùng chung sống. Từ đó, chế độ quần hôn đã tồn tại trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản nguyên thủy. Sự tồn tại của chế độ quần hôn không cho phép xác định được ai là cha của đứa trẻ sinh ra mà chỉ có thể biết được mẹ nó mà thôi.
Vì thế, những đứa trẻ sinh ra chỉ theo dòng họ mẹ. Tập hợp những người cùng chung sống theo huyết tộc mẹ qua nhiều thế hệ đã hình thành những tổ chức thị tộc nhất định. 13 Thị tộc là tế bào của xã hội và mỗi một tổ chức thị tộc đã dần dần trở thành một tổ chức lao động và sản xuất. "Với một nền sản xuất và tổ chức xã hội giản đơn nên sở hữu trong thời kỳ nguyên thủy chỉ là một khái niệm để phản ánh mối quan hệ giữa con người với nhau trong việc chiếm hữu những vật phẩm của tự nhiên mà họ thu giữ được" [59, tr.
Tuy vậy, khi mà thông qua vấn đề sở hữu có thể phân biệt được tài sản trong xã hội thuộc về ai, tổ chức thị tộc nào thì từ đó cũng sẽ xuất hiện quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống. Tất nhiên, sự chuyển dịch đó chỉ hoàn toàn theo những tập tục của thừa kế nguyên thủy, nghĩa là thừa kế trong thời kỳ này hoàn toàn do phong tục tập quán của từng thị tộc quyết định. Khi nghiên cứu về vấn dé này, Ph.Angghen đã viết: Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy, người trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn nên lâu nay trong thừa kế có lẽ người ta vẫn trao những tài sản đó cho những bà con thân thiết nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ [1, tr.
Kể từ khi hình thái gia đình Punaluan xuất hiện, diện những người có quan hệ tính giao đã được hạn chế hơn nhiều nhưng huyết tộc vẫn được xác định về bên mẹ. "Tuy nhiên, bắt đầu từ lúc đó, nhóm ấy ngày càng do những thiết chế, chúng khắc có tính chất xã hội, tôn giáo mà càng trở nên vững chắc và ngày càng có những nét phân biệt với các thị tộc khác trong cùng một bộ lạc” [1, tr. Mặt khác, trong các thị tộc này người phụ nữ chiếm một địa vị quan trọng, là lao động chính và có vai trò vinh dự trong thi toc. Ho 1a thanh viên của những người đứng đầu thi tộc.
Dia vị của người phụ nữ lúc đó độc lập, vững vàng và tính chất của thị tộc lúc này là thị tộc mẫu quyền. Tất nhiên, chúng ta không nói đến "quyền" theo nghĩa pháp lý mà đó chỉ là những quyền 14 lực được tạo ra từ uy tín, địa vị. Chính vì vậy mà khi so sánh địa vị của người phụ nữ dưới chế độ thị tộc mẫu quyền với địa vị của người phụ nữ trong xã hội văn minh, Ph.Angghen đã viết: "Một bà trong thời đại văn minh được tôn trọng bề ngoài và xa lạ với một lao động thực sự thì lại chiếm một địa vị xã hội thấp hơn rất nhiều so với địa vị xã hội của người đàn bà thời dã man là người phải cực nhọc nhưng được nhân dân coi là một bà thật sự” [1, tr. Bằng việc chỉ ra một cách khái quát về tính chất của chế độ thị tộc mẫu hệ, chúng ta thấy rõ thừa kế trong thời kỳ này là sự chuyển dịch tài sản của người quá cố sang người còn sống khác nhưng không được vượt khỏi phạm vi một thị tộc.
Trong phạm vi đó, người được giao tài sản phải là người có quan hệ thân thiết nhất với người đã chết và sự thân thiết này được xác định trên cơ sở huyết thống mẫu hệ. Như vậy, thừa kế trong thời kỳ này chỉ là một tập tục xã hội thuần túy. Ở giai đoạn tiếp thco, qua quá trình lao động sẵn xuất với những kinh nghiệm đã được tích lũy, trình độ lao động của con người dần dân được nâng cao, nền kinh tế ngày càng phát triển nên đã xuất hiện nhiều ngành nghề khác nhau.