CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN DỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI 1.1 Khái quát về người phạm tội dưới 18 tuổi 1.1 Khái niệm và đặc điểm của người phạm tội dưới 18 tuổi Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, đặc biệt là về tâm - sinh lý, hạn chế trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống. Ở lứa tuổi này, con người ta dễ bị kích động, lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm. Tuy nhiên, hoạt động cảm hóa, giáo dục, cải tạo đối với họ lại mang lại hiệu quả cao. Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về người phạm tội dưới 18 tuổi nhưng không sử dụng cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” mà sử dụng cụm từ “người phạm tội dưới 18 tuổi”.
Việc quy định như vậy nhằm cụ thể hóa và thống nhất cách hiểu về độ tuỏi của người chưa thành niên phạm tội. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, các cụm từ “người chưa thành niên”, “người chưa đủ 18 tuổi” được sử dụng với cùng một nội hàm và ngữ nghĩa như “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” (Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015) , “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” (Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012)… Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 ghi nhận cụ thể: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” [9, quy tắc 2. Do cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” được pháp luật hình sự sử dụng phổ biến trước đây nên đã có nhiều nhà khoa học định nghĩa người chưa thành niên phạm tội như: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã 8 hội bị luật hình sự cấm” [4, trang 9]; “Người chưa thành niên phạm tội là người mà tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm chưa đến tuổi trưởng thành nhưng có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định” [49, trang 14-15]; Người chưa thành niên phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Bộ luật Hình sự quy định là loại tội phạm mà người đó phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm phải”[49, trang 16]… Người phạm tội dưới 18 tuổi là khái niệm được hợp thành từ hai khái niệm: Người phạm tội (hay tội phạm - thực hiện hành vi bị pháp luật hình sự quy định là tội phạm) và người dưới 18 tuổi.
Về khái niệm tội phạm, hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về tội phạm như: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” (Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015), “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” [39, trang 50], “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong Luật hình sự và phải chịu hình phạt” [35, trang 64], “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi” [10, trang 111]… Như vậy, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn những yêu cầu nhất định về năng lực pháp luật hình sự mà không phải tất cả người nào thực hiện các hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm đều trở thành tội phạm. Tức là, họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Năng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở khả năng nhận thực và điều khiển hành vi của con người. 9 Khả năng nhận thức phụ thuộc vào độ tuổi và trạng thái thần kinh.
Khả năng điều khiển hành vi lại được quyết định bởi khả năng nhận thức cùng với sự tự do của ý chí và sự lành mạnh về thể chất. Do đó, những người mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi sẽ không có năng lực trách nhiệm hình sự. Và ngược lại, người có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội sẽ là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Mặt khác, người có năng lực trách nhiệm hình sự cũng phải đạt đến độ tuổi nhất định.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự không thống nhất trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới, nó dao động từ 7 đến 17 tuổi như pháp luật Singapore, Ấn Độ, Kenya, Jamaica quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 7 tuổi; Scotland quy định là 8 tuổi; Hà Lan, Canada quy định là 12 tuổi, Việt Nam quy định là đủ 14 tuổi trở lên. Về khái niệm, người chưa đủ 18 tuổi được xác định là những người mà tại thời điểm cần xác định tuổi của họ đến trước ngày sinh nhật lần thứ 18 của họ. Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép); 10 đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự). Ở đây còn xuất hiện thêm khái niệm “người từ đủ 14 tuổi trở lên”. Khái niệm này được hiểu là tại thời điểm cần xác định tuổi tính từ ngày sinh nhật lần thứ 14 của họ trở đi. Như vậy, có thể định nghĩa: Người phạm tội dưới 18 tuổi là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm khi họ từ đủ 14 tuổi (ngày sinh nhật lần thứ 14) trở lên đến dưới 18 tuổi (trước ngày sinh nhật lần thứ 18) và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Đặc điểm tâm, sinh lý là đặc thù của người phạm tội dưới 18 tuổi. Họ là những người tuổi đời còn ít, chưa có nhiều kinh nghiệm sống, sự hiểu biết pháp luật và các chuẩn mực xã hội còn hạn chế. Ở lứa tuổi này đang có sự biến đổi mạnh mẽ về tâm, sinh lý và là giai đoạn quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Về mặt sinh lý, sự phát triển mạnh mẽ của hệ tuần hoàn, đặc biệt là tim dẫn đến sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ tim mạch.
Cơ thể người dưới 18 tuổi, đặc biệt là từ khi dậy thì, tuyết nội tiết hoạt động mạnh, tiết ra nhiều hooc môn tăng trưởng và hooc môn sinh dục. Những thay đổi này gây ra sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Điều này làm cho người dưới 18 tuổi có 11 những cơ xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ, mất kiểm soát và có những hành vi bất thường. Do đó, họ dễ thực hiện các hành vi lệch chuẩn.
Về mặt tâm lý, ở lứa tuổi này, con người ra thường có nhu cầu độc lập cao. Họ không muốn phụ thuộc vào người khác, quá tự tin vào khả năng của chính mình, muốn tự khẳng định mình. Điều này thể hiện bằng các dạng hành vi ngang bướng, cố chấp, bảo thủ, tự ái, phô trương, mạo hiểm, côn đồ. Tuy nhiên, họ cũng có nhu cầu khám phá thế giới rất cao.