Chương I. Những vấn đề lý luận về các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Chương II. Quy định của BLHS năm 2015 về các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng.
Chương III. Những ưu điểm, hạn chế trong quy định của BLHS năm 2015 về các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và kiến nghị hoàn thiện. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC NGUYÊN TẮC XỬ LÝ ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định các nguyên tắc xử lý đối với ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội 1.
Khái niệm các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 đều sử dụng thuật ngữ “NCTNPT” trong vấn đề xác định TNHS và quyết định hình phạt đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội. BLHS năm 2015 lần đầu tiên có sự thay đổi khi sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi phạm tội” thay thế cho thuật ngữ “NCTNPT”. Theo quy định của pháp luật quốc tế, khái niệm “trẻ em” và “NCTN” được sử dụng đồng nhất. Quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 nêu rõ:“Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [17-Đ.1] hay Quy tắc Bắc Kinh xác định: “NCTN là trẻ em hay người ít tuổi tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn” [19-mục 2.a] và trong các văn bản quốc tế khác như Quy tắc tối thiểu của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do, Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN cũng xác định: “NCTN là người dưới 18 tuổi” [12, 15].
Thông qua đó có thể thấy khái niệm “trẻ em” và “NCTN” là đồng nhất theo cách thức quy định của pháp luật quốc tế. Còn ở Việt Nam, “trẻ em” và “NCTN” là hai khái niệm riêng biệt được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Ví dụ, Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên” [5-Đ20], có thể suy ra “NCTN là người dưới 18 tuổi”. Điều 90 BLHS năm 2015 tuy không đưa ra khái niệm nhưng dựa trên quy định về giới hạn độ tuổi chịu TNHS là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thì BLHS năm 2015 cũng xác định “NCTN là người dưới 18 tuổi”.
Tuy nhiên, 8 theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 thì: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [6- Đ. Như vậy, có thể thấy khái niệm “NCTN” theo PLHS Việt Nam có sự đồng nhất với pháp luật quốc tế nhưng khái niệm “trẻ em” lại không đồng nhất. Chính vì thế, sự thay đổi về mặt thuật ngữ “NCTN” thành “người dưới 18 tuổi”, “trẻ em” thành “người dưới 16 tuổi” sẽ giúp các nhà làm luật quy định chính xác đối với từng tội danh và quyết định hình phạt phù hợp đối với từng tội phạm cụ thể. Điều 12 BLHS năm 2015 quy định về tuổi chịu TNHS thì người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về một số tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê tại khoản 2 Điều 12; còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác.
Kết hợp với quy định tại Điều 90 BLHS năm 2015: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này” – Chương XII (Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội) thì các thuật ngữ “NCTNPT” trước đây hay “người dưới 18 tuổi phạm tội” hiện nay đều dùng để chỉ về cùng một đối tượng là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội. Từ các quy định tại Điều 12 và Điều 90 BLHS năm 2015, tác giả rút ra khái niệm: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là những người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi bị coi là tội phạm được quy định trong BLHS”. Bên cạnh đó, có thể nói rằng, chính sách xử lý riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội xuất hiện và tồn tại gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của PLHS Việt Nam. Với sự cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội có những khác biệt đáng kể so với người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.
Sự khác biệt này trước hết thể hiện trong các quy định về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó quan trọng nhất là quy định về nguyên tắc xử lý đối với người 9 dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là những quy định giữ vai trò định hướng đối với việc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy một số tác giả đã trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra quan điểm của mình về khái niệm “nguyên tắc xử lý” như sau: Theo tác giả Lê Cảm và Đỗ Thị Phượng thì dưới góc độ khoa học: Nguyên tắc xử lý về hình sự đối với NCTNPT là tổng hợp các quy phạm của PLHS thực định thể hiện tính nhân đạo của chính sách hình sự của nhà nước để giải quyết vấn đề TNHS của NCTNPT theo hướng giảm nhẹ hơn so với mức độ TNHS của người thành niên” [25- tr. Tác giả Trịnh Tiến Việt cho rằng: “Nguyên tắc xử lý NCTNPT là những nguyên tắc cơ bản có tính chất chỉ đạo, xuyên suốt quá trình khi xử lý NCTNPT, cũng như phân loại mức độ phải chịu TNHS của từng lứa tuổi trong Điều 12 BLHS” [59-tr.
Còn theo tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa đề cập trong bài báo khoa học rằng: “Điều 91 BLHS năm 2015 quy định các nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là những nguyên tắc định hướng, chi phối việc xây dựng các quy định về TNHS của người dưới 18 tuổi, đồng thời cũng là những nguyên tắc quan trọng trong việc áp dụng PLHS xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội” [28-tr. Từ các quan điểm trên, tác giả có thể đưa ra kết luận về các “Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” như sau: “Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo mang tính định hướng, xuyên suốt các quy định về xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, dựa trên các chuẩn mực quốc tế và chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”. Cơ sở của việc quy định các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam Việc quy định các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam xuất phát từ những cơ sở lý luận sau đây: 10 Thứ nhất, dựa trên các quy định tiến bộ của các văn bản pháp luật quốc tế trong quy định về nguyên tắc xử lý đối với NCTNPT như Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Các quy tắc tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh năm 1985); Hướng dẫn Ri-át năm 1990 về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN; Hướng dẫn Viên năm 1997 về làm việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự; Quy tắc tối thiểu của Liên hợp quốc về các biện pháp không giam giữ (Quy tắc Tokyo năm 1990); Quy tắc của Liên hợp quốc bảo vệ NCTN bị tước tự do (Quy tắc Havana năm 1990).
Đây là các văn bản pháp lý quốc tế ràng buộc nghĩa vụ đối với tất cả các quốc gia thành viên và các hướng dẫn quốc tế mang tính khuyến nghị để giải thích pháp luật, giúp các quốc gia dễ dàng hơn trong công tác nội luật hóa. Những quy định liên quan trong nội dung các văn bản này sẽ được tác giả phân tích cụ thể ở mục 1. Thứ hai, việc quy định các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn dựa trên chính sách của Đảng và nhà nước CHXHCN Việt Nam, luôn quan tâm đến người dưới 18 tuổi phạm tội. Văn bản đứng đầu trong hệ thống pháp luật Việt Nam – Hiến pháp năm 2013 của nước CHXHCN Việt Nam quy định tại Điều 37: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em” [1-Đ.
Quy định này trong Hiến pháp có vai trò rất quan trọng, có tác dụng định hướng cho các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật phải xây dựng và hoàn thiện các quy định nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều 5 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em. Tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em. Có thể thấy “lợi ích tốt nhất” của trẻ em tiếp tục được đặt lên hàng đầu, phù hợp với quy định của Hiến pháp và mang tính tham khảo cho các văn bản pháp luật khác cần được xây dựng đồng bộ với tinh thần này.
11 Bên cạnh đó, còn cần kể đến một số văn bản thể hiện đường lối xử lý về hình sự rõ ràng hơn như Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 xác định rõ mục tiêu: “Hoàn thiện chính sách hình sự, bảo đảm yêu cầu đề cao hiệu quả phòng ngừa; hạn chế hình phạt tử hình, giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền; CTKGG đối với các loại tội ít nghiêm trọng. Đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.5] Trên bình diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, thì Hiến pháp và pháp luật luôn coi trẻ em, người dưới 18 tuổi là đối tượng cần bảo vệ, chăm sóc và quan tâm đặc biệt khi họ là chủ thể của tội phạm cũng như khi họ là nạn nhân của tội phạm.