Chương 1 LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1. Lý luận về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm, đặc điểm thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm thủ tục xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi Chúng ta biết rằng: cuộc đời của mỗi con người thường trải qua những giai đoạn phát triển với những lứa tuổi khác nhau, vì vậy đã hình thành những tên gọi, thuật ngữ khác nhau như: trẻ em, người lớn, nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên; tuy nhiên trong các thuật ngữ pháp lý của nhiều nước đã sử dụng phổ biến cách gọi là người thành niên và chưa thành niên.
Trên phạm vi quốc tế, các văn bản pháp luật liên quan đến người chưa thành niên gồm: Công ước về quyền trẻ em (được Đại Hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 20/11/1989); Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hiệp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (hay thường gọi là Quy tắc Bắc Kinh ngày 29/11/1985); hướng dẫn của Liên hiệp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Ri-át, ngày 14/12/1990). thì trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên là người trong độ tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi, người trẻ tuổi bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên. Còn các văn kiện khác như Quy tắc Bắc Kinh (1985) cũng đều thống nhất quan điểm người chưa thành niên là người chưa đến 18 tuổi. Trong khi đó ở một số văn kiện của một số tổ chức thuộc Liên Hiệp quốc như Quỹ dân số (UNCPA), Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên Hiệp quốc (UNECO) thì quy định trẻ em là những người dưới 15 tuổi.
Theo pháp luật Việt Nam, từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong quá 7 khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mạng lại cũng như tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế mà các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về người chưa thành niên, tùy theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật, như sau: Tại điều 1, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Điều 20 và Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên; “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”. Luật Lao động năm 2013 Điều 161 quy định: “người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Như vậy có thể thống nhất một quan điểm là người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
Quan niệm này hoàn toàn phù hợp với Công ước Quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/02/1990 mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Theo quy định của BLHS năm 1999 thì người chưa thành niên là những người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều 12 BLHS năm 1999). Điều 50 BLTTHS năm 2003 quy định “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử…”.
Đồng thời theo quy định tại Điều 12 của BLHS năm 1999 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thì có thể hiểu bị cáo là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Từ phân tích trên có thể hiểu: Bị cáo dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Việc xác định tuổi của bị cáo là người dưới 18 tuổi rất quan trọng vì đây là căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối với bị cáo 8 nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người phạm tội dưới 18 tuổi. Việc xác định tuổi của bị cáo còn giúp Cơ quan tiến hành tố tụng xác định việc xét xử và áp dụng hình phạt đới với người dưới 18 tuổi.
Quá trình giải quyết một vụ án hình sự cụ thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong đó xét xử sơ thẩm là giai đoạn quan trọng không thể thiếu trong một quá trình tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 27, BLTTHS 2015 quy định: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật.
Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật, như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận chất vấn những vấn đề mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện. Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp.
Có quan điểm cho rằng xét xử sơ thẩm là xét xử một vụ án cụ thể ở cấp thấp nhất. Quan điểm này cũng chỉ mang tính hình thức chứ chưa chỉ ra được nội dung và bản chất của xét xử sơ thẩm và khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm mà cụ thể là Hội đồng xét xử sơ thẩm có sự tham gia của Hội thẩm có thể ra bản án hoặc quyết định. Bản án, quyết định này chưa phát sinh hiệu lực pháp luật ngay và nó có thể bị kháng cáo, kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Quan điểm khác thì lại cho rằng xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất do Tòa án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật [25].
Chúng tôi cho rằng không phải tất cả các phiên tòa ở cấp thứ nhất (phiên tòa sơ thẩm) đều là xét xử lần thứ nhất. 9 Với các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân, có thể nhận thấy hoạt động xét xử vụ án hình sự là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án. Tòa án là cơ quan duy nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đảm nhiệm chức năng xét xử cùng với sự phân tích trên, có thể hiểu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp thứ nhất (Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh) tiến hành có sự tham gia của Hội thẩm (trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn) để tiến hành giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra bản án quyết định bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn vô cùng quan trọng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn coi trẻ em là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hàng ngày mà ngay cả khi quyền trẻ em bị xâm phạm cần được bảo vệ hoặc khi đối tượng này vi phạm pháp luật. Vì vậy, Luật hình sự bảo vệ người dưới 18 tuổi bị coi là người phạm tội và cũng quy định một chế tài riêng để xử lý, thủ tục tố tụng cũng phải phù hợp với lứa tuổi nhằm thể hiện tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, BLTTHS năm 2015 đã có một chương riêng (Chương XXVIII) quy định thủ tục tố tụng đối với vụ án mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, Điều 413 quy định về phạm vi áp dụng “Thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi”, vậy thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 được hiểu là gì? Qua nghiên cứu các quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi trong chương này, chúng ta có thể hiểu: Các quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi có những đặc trưng so với thủ tục tố tụng áp dụng đối với người trên 18 tuổi. Những đặc trưng này thể hiện ở các quy định về tiêu chuẩn của người tiến hành tố tụng, về đối tượng phải chứng minh, về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, về việc bào chữa, việc tham gia của gia đình, nhà trường tổ chức xã hội vào tố tụng cũng như công tác xét xử thi hành án. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định 10 các quyền tố tụng và bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật đối với đối tượng đặc biệt này. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được chia thành hai giai đoạn là chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Còn thủ tục xét xử có thể hiểu là cách thức tiến hành giải quyết một vụ án hình sự.