Chương 1: LÝ LUẬN CÁC NGUYEN TAC CUA PHÁP LUẬT QUOC TE VE XU LÝ NGƯỜI CHUA THÀNH NIÊN PHAM TOI 1. Lược sử hình thành va phát triển các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội Như đã đề cập ở trên, trước khi có sự tiến bộ về mặt nhận thức, quan niệm trẻ em là ‘ ‘cua cai” của cha me khá phổ biến. Trẻ em trong lịch sử không có các quyền lợi hợp pháp, và đôi khi là các quyền cơ bản của con người. Theo thời gian, các chuẩn mực của thế giới về trẻ em đã thay đôi đáng kể, nhận thức của xã hội được nâng lên kéo theo đó là sự thay đôi về tư duy của các nhà lập pháp trên thế giới về hình phạt đối với trẻ vị thành niên.
Đặc biệt với sự ra đời của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (UNCRC) cũng như sự thừa nhận của pháp luật các nước trên thế giới về quyền trẻ em - là những kết quả tất yếu trong tiến trình phát triển của các nguyên tắc xử lí người chưa thành niên phạm tội nói chung trên thế giới. Tiến trình phát triển này có thể chia làm 04 giai đoạn như sau: 1. Thời kỳ cỗ đại Bộ luật Hammurabi (Code of Hammurabi) vào khoảng năm 1760 TCN - là văn bản luật lâu đời nhất va cũng là bộ luật được biết đến là có những hình phạt hà khắc nhất cho những người phạm tdi. Đối với trẻ em, bộ luật này cũng không hạn chế các hình phạt mang tính bạo lực mà thậm chỉ còn xử phat rất tan bạo.
Tại công trình nghiên cứu của Giáo su Martha T. Roth[49], đã dịch giải tương đối đầy đủ Bộ luật Hammurabi, thông qua các quy định tại bộ luật này có thể thấy trẻ em thời kỳ này bị đối xử rất hà khắc và không hề có sự phân biệt với người lớn. Ví dụ, nếu một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi bố mẹ nuôi nhưng lại từ chối nhận mình là con của họ thì sẽ bị móc mắt Uf the child of (i., reared by) a courtier or the child of (i., reared by) a sekretu identifies with his father's house and repudiates the father who raised him or the mother who raised him and departs for his father's house, they shall pluck out his eye). Hoặc, nêu đứa trẻ đó tự mình nói ra rằng chúng không phải con của họ (bố mẹ nuôi), thi sẽ phải chịu hình phạt là cắt lưỡi (Jf the child of (i., reared by) a courtier or the child of (i., reared by) a sekretu should say to the father who raised him or to the mother who raised him, "You are not my father," or "You are not my mother," they shall cut out his tongue).
Mặc dù không tách biệt rõ ràng giữa người lớn và trẻ em theo cách hiểu hiện đại, hay nói cách khác là sự phân biệt dựa trên độ tuổi, nhưng bộ luật này vẫn cho thấy sự nhận thức về một độ tuổi nhất định mà trẻ em sẽ phải gánh chịu trách nhiệm cho hành động của mình. Bên cạnh đó, việc áp dụng các hình phạt khác nhau dựa trên địa vị và tuổi tác đã bước đầu thể hiện được nguyên tắc cá thê hoá hình phạt cũng như cá thê hoá trách nhiệm hình Sự, càng nhắn mạnh thêm ý nghĩa của bộ luật Hammurabi đối với hoạt động lập pháp sau này nói chung, và hoạt động xây dựng các quy phạm pháp luật về xử lý người chưa thành niên phạm tội nói riêng. Thời kỳ cận đại (trước Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất Trước Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất, các hệ thông pháp luật trên thế giới đã có sự đa dạng đáng kể. Nhưng tựu chung lại, nền tư pháp thời kỳ này mang đậm dấuấn giai cấp và bị ảnh hưởng sâu sắc bởi bối cảnh xã hội của mỗi quốc gia.
Trong giai đoạn này, trẻ em vẫn là đối tượng không nhận được sự ưu ai và coi trọng của pháp luật, do đó các hình phạt dành cho trẻ em phạm tội thường không được phân biệt rõ ràng và khá tàn khốc. Vào khoảng thế kỷ XV - XVI không có khái niệm về tuổi vị thành niên (teenager) như ngày nay. Thay vào đó, sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn được xác định dựa trên mức độ phụ thuộc (physical dependency) hoặc mức độ tự lập (independence). Do đó, nếu một đứa trẻ, hoặc thanh thiếu niên (theo khái niệm ngày nay) phạm tội, chúng có thể bị trừng phạt theo cách tương tự như người lớn vào thời kỳ nay[50].
Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX Trong giai đoạn này, các quốc gia bắt đầu xây dựng hệ thống pháp lý riêng cho người chưa thành niên phạm tội. Điều này thể hiện sự nhận thức về việc trẻ em có sự khác biệt so với người lớn trong khả năng suy nghĩ và trách nhiệm tội phạm của mình. Tuy nhiên, các biện pháp xử lý vẫn còn khá nghiêm khắc, bao gồm giáo dục tù và việc áp dụng các quy định giống như người lớn. Tại các nước phương Tây từ thé ky XVII - XIX, các hình phạt tra tan thân thé, sử dụng vũ lực đối với trẻ em bị coi là sai trái về mặt đạo đức và được loại bỏ hoàn toàn.
Thay thế là các biện pháp được đánh giá là có hiệu quả hơn như: các biện pháp can thiệp tâm lý và giáo dục trẻ em theo các chuẩn mực và giá trị Kitô giáo cũng như vào việc đào tạo kỷ luật và lao động hữu ích trong cơ sở giáo dục. Đây là cũng là thời điểm các trường giáo dưỡng được thành lập và trở nên phổ biến tại phương Tây. Mặc dù vậy, trong quá trình vận hành và hoạt động các nhà giáo dưỡng này, vì nhiều yếu tố như quy mô tô chức, chỉ phí vận hành, mục tiêu cải tạo và phục hồi ban đầu không còn được duy trì hiệu quả, tình trạng quá tải, nhân sự không đủ dé đáp ứng,. nên những cơ sở giáo dưỡng này đã thoái hoá và vô tình trở thành nhà tù cho thanh thiếu niên, đánh mat giá tri giáo dục tốt đẹp ban dau[51].
Đến khoảng cuối thé ky XX, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội mới chính thức được luật hoá trên phạm vi thế giới bằng Nghị quyết 44-25 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc. Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (UNCRC), đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đây quyền của trẻ em trên toan thế giới. Từ đây, các biện pháp xử lý NCTN phạm tội được tạo ra dựa trên nguyên tắc kỷ luật hơn là hình phạt. Sự nhận thức về tác động của môi trường, gia đình và giáo dục đối với sự phát triển của trẻ em được tăng cường, kéo theo đó là sự chuyền biến đáng kể trong việc hình thành hệ thống tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên.
Năm 1889, mô hình Toa án dành cho người chưa thành niên đầu tiên được hình thành tại Hoa Kỳ, sau đó là ở Anh (năm 1980), Toà Gia đình ở Nhật Bản (năm 1949),.[34] đã mở đường cho các biện pháp xử lý phù hợp và văn minh hơn đối với loại tội phạm này. Xứ lý người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn hiện nay Trong vài năm trở lại đây, các quốc gia đã tăng cường hơn nữa việc bảo vệ quyền lợi và đảm bảo sự phát triển của trẻ em phạm tội. Nguyên tắc "hưởng sự bảo vệ và hỗ trợ" đã trở nên quan trọng hơn trong xử lý người chưa thành niên phạm tội. Thành tựu lớn nhất trong giai đoạn này đó là việc tách các quy định về xử lý hình sự đối với người chưa thành niên ra khỏi hệ thống các quy tắc về xử lý hình sự thông thường đối với người chưa trưởng thành, hay nói cách khác đó là sự ra đợi của Luật Tư pháp người chưa thành niên ở nhiều nước trên thé giới.
Sau khi Công ước về quyền trẻ em (UNCRC) được Liên Hợp quốc thông qua, các quốc gia trên thế giới đã nhanh chóng phê chuẩn Công ước, tạo tiền đề dé Tư pháp cho người chưa thành niên được hình thành và chuẩn hoá trong nhiều hệ thống pháp luật của các nước. Trong đó, cốt lõi của Tư pháp cho người chưa thành niên nói chung và Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội nói riêng bao gồm việc khuyến khích các biện pháp phục hồi, giáo dục, sửa chữa và tái hoà nhập xã hội dé giúp người chưa thành niên có cơ hội hồi phục và tham gia cộng đồng một cách tích cực sau khi “trải qua” hành vi vi phạm pháp luật. Tuy có sự khác biệt giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trong việc áp dụng nguyên tắc và biện pháp xử lý người chưa thành niên phạm tội, xu hướng chung là tìm cách tạo ra một môi trường hỗ trợ và phát triển dé tác động tích cực đến quá trình lớn lên và tái hoà nhập của trẻ em. Một số van đề lý luận về các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật quốc tế 1.
Khái niệm người chưa thành niên phạm tội a. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật quốc tế Khi xác định “người chưa thành niên”, cộng đồng quốc tế có rất nhiều khái niệm để mô tả về đối tượng nay. Các thuật ngữ phổ biến là child, juvenile, minor, young person, adolescent, teenager. Theo từ dién Cambrigde, “child” chỉ một người trong giai đoạn từ khi mới sinh ra cho đến khi người đó trưởng thành.
Trong khi đó, “juvenile” ám chỉ một người trẻ chưa đủ tuôi để được xem như là một người trưởng thành, hay “minor” cũng được dùng dé xác định một người trẻ tuổi chưa có đầy đủ trách nhiệm về mặt pháp lý như một người trưởng thành, thuật ngữ “juvenile” va “minor” được sử dụng nhiều hơn trong lĩnh vực hình sự. Mặt khác, “adolescent” và “teenager” nham chỉ đến một giai đoạn phát triển của con người - giai đoạn dậy thì - thông thường giai đoạn này bắt đầu từ khi con người khoảng 13 tuôi và kết thúc vào khoảng 19 tuổi. Trong lĩnh vực pháp lý, pháp luật quốc tế về người chưa thành niên cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau về nhóm đối tượng này, cụ thể: Điều 1 Công ước UNCRC quy định: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là bat kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thé được áp dụng với trẻ em đó quy định tuôi thành niên sớm hơn.a Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ trẻ em bị tước đoạt tự do năm 1990 cũng quy định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.