CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm 1. Khái niệm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm Người dưới 18 tuổi là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần. Những người trong độ tuổi này thường có nhận thức về các vấn đề xã hội chưa đầy đủ; tâm sinh lý chưa ổn định, bản tính hiếu thắng, dễ tự ái, thích thể hiện bản thân, dễ học hỏi khám phá những điều mới nhưng chưa nhận thức được đúng, sai; hành động theo cảm tính, còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng sống nên dễ phát sinh hành động bộc phát, bị kích động, chịu sự xúi giục của người khác dẫn đến hành vi phạm tội.
Sau khi phạm tội, một số người có suy nghĩ hối hận, tâm lý sợ hãi, hoặc rất sợ hãi làm tổn thương về tinh thần nhưng cũng có một số người nhận thức họ trở thành “anh hùng” chứ không phải đã phạm sai lầm. Trong quá trình tố tụng hình sự, người dưới 18 tuổi phạm tội phải gặp, tiếp xúc, trả lời câu hỏi của nhiều “người lạ” là những người THTT. Khi làm việc với cơ quan, người THTT, họ có thể khai báo không đúng sự thật hoặc khai báo theo sự dẫn dắt, mớm cung của người THTT làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án, xác định TNHS của chính bản thân họ hoặc những đồng phạm khác. Do đó, luật hình sự có sự phân biệt về năng lực trách nhiệm của người dưới 18 tuổi với người từ đủ 18 tuổi trở lên.
Luật TTHS cũng có quy định riêng về thủ tục tố tụng đối với người 8 luan an dưới 18 tuổi phạm tội. Trong tố tụng hình sự, giai đoạn xét xử sơ thẩm bắt đầu từ khi Viện kiểm sát giao hồ sơ vụ án kèm theo cáo trạng đến Tòa án có thẩm quyền và Tòa án thụ lý vụ án đến khi Toà án ra phán quyết bằng bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Hoạt động xét xử vụ án hình sự diễn ra tại phòng xử án hình sự với việc bố trí không gian làm tăng tính uy nghiêm của HĐXX. Vị trí của bị cáo là trung tâm của phòng xử án và có khoảng cách nhất định với vị trí của những người tham gia tố tụng khác.
Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa đa số tập trung vào bị cáo. Bị cáo là trung tâm của toàn bộ phiên tòa; phiên tòa diễn ra công khai sẽ có sự tham gia của nhiều người tham gia tố tụng và người tham dự phiên tòa. Những đặc điểm này dễ gây cho người phạm tội dưới 18 tuổi cảm giác cô độc, xấu hổ, sợ hãi, ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển tâm lý, nhận thức của người phạm tội dưới 18 tuổi. Việc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Vì vậy, cần phải bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội để hiện thực hóa mục đích xử lý hình sự, đảm bảo được mục đích, ý nghĩa của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tại Điều 4 Quy tắc Bắc Kinh hướng dẫn rằng, điểm bắt đầu của giới hạn tuổi chịu TNHS không được quy định ở mức quá thấp, phải chú ý tới sự phát triển của cảm xúc, tâm lý và nhận thức của người chưa thành niên. Tức là việc quy định tuổi tối thiểu của TNHS phải đủ cao để đảm bảo trẻ em đã nhận thức được tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội thì mới có thể phải chịu TNHS. Trên thực tế, tuổi tối thiểu của TNHS được quy định rất khác nhau giữa các quốc gia, từ 6 đến 18 tuổi, hoặc không được quy định.
Theo so sánh 9 luan an giữa các quốc gia về tư pháp người chưa thành niên thì quốc gia quy định độ tuổi phải chịu TNHS thấp nhất là 6 tuổi (Mê Hi Cô, Hoa Kỳ), phổ biến nhất là khoảng từ 13 đến 18 tuổi (Bỉ là 16 tuổi; Italia là 14 tuổi; Trung Quốc là 14 tuổi; Colombia là 18 tuổi; Nga là 14 tuổi;…) [59]. BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tuổi tối thiểu phải chịu TNHS là từ đủ 14 tuổi (Điều 12). Trong bài viết này, “người dưới 18 tuổi phạm tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” được hiểu là bị can, bị cáo mà tại thời điểm phạm tội, họ từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Về mặt ngôn ngữ, “bảo đảm” nghĩa là “tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được, hoặc thực hiện được, hoặc có được những gì cần thiết”.
“bảo đảm quyền” được hiểu là tạo điều kiện để chắc chắn thực hiện được điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi [16]. Thuật ngữ “bảo đảm quyền” trong các bài viết, bài nghiên cứu về khoa học pháp lý được đề cập rất nhiều nhưng vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh. Theo tác giả Trần Thanh Hương, khi phân tích về khái niệm “bảo đảm quyền tự do công dân”, tác giả cho rằng khái niệm bảo đảm quyền trong khoa học pháp lý được hiểu là các điều kiện khách quan và phương tiện (công cụ) tổ chức và các công cụ khác không chỉ là nhằm mục đích công bố, ghi nhận về mặt pháp lý các quyền và tự do cơ bản của công dân mà còn nhằm mục đích bảo vệ các quyền, tự do cơ bản đó một cách toàn diện và thực thi chúng trong cuộc sống [15]. Tác giả đồng ý với quan điểm này, bởi lẽ, khái niệm do tác giả Trần Thanh Hương đưa ra phản ánh được đầy đủ ý nghĩa về mặt ngôn ngữ cũng như tính chất pháp lý của bảo đảm quyền.
Từ đó, có thể khái quát chung, bảo đảm quyền trong khoa học pháp lý được hiểu là các điều kiện khách quan và phương tiện (công cụ) tổ chức và các công cụ khác không 10 luan an chỉ là nhằm mục đích công bố, ghi nhận về mặt pháp lý về quyền mà còn nhằm mục đích bảo vệ các quyền đó một cách toàn diện và thực thi chúng trong cuộc sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy về cách đối xử đối với người phạm lỗi là “làm sao cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi” [21], “ta phải nhận thức được rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc, đối với đồng bào lạc lối, lạc đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ” [22], thể hiện tư tưởng bao dung với người lầm lỗi, lấy nhân nghĩa để cảm hóa, lấy khoan hồng để đối xử, giúp đỡ người phạm tội làm lại cuộc đời, trở thành người tốt. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp được nêu tại Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị là “Công tác tư pháp phải thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng,. phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế; giữ vững bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, “Công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự.
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Ban chấp hành Trung ương đưa ra mục tiêu cải cách tư pháp là “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” với phương hướng “hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”; nhiệm vụ “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm 11 luan an tội”, “Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia. Chủ trương, đường lối đúng đắn này tiếp tục được nhắc lại tại Văn kiện Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XII [9]. Những văn kiện pháp lý quốc tế và công ước quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự mà Việt Nam đã tham gia có thể kể đến những văn bản sau: Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948; Tuyên ngôn của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959; Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh); Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Riát); Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1990; Tuyên ngôn thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em năm 1990. Tinh thần chung của các văn bản trên tập trung vào nội dung trẻ em là chủ thể cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, cần được bảo vệ về mặt pháp lý.
Đối với những người chưa thành niên vi phạm pháp luật, cần phải có chính sách riêng phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em, đặc biệt là nguyên tắc đối xử thân thiện, quyền giữ bí mật thông tin, quyền bào chữa, và quyền được có người đại diện, người giám hộ tham gia vào quá trình tố tụng. Từ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, kế thừa những quy định tiến bộ của thế giới về quyền con người, quyền trẻ em, đặc biệt là những người dưới 18 tuổi phạm tội, Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương riêng quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân và đẩy vị trí lên Chương 2, thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc coi trọng quyền con người, quyền công 12 luan an dân. Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em.