Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN 1. Khái quát chung về bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm, đặc điểm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội a.
Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Thuật ngữ NCTN hay là người dưới 18 tuổi được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau như xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, pháp luật.Tuy nhiên, thuật ngữ này được sử dụng chưa thống nhất, tùy từng góc độ, từng lĩnh vực nghiên cứu và thực tiễn mà được hiểu khác nhau. Cụ thể: Trong công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 quy định: Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn |22]. Như vậy, pháp luật quốc tế đã thừa nhận khái niệm trẻ em là người có độ tuổi dưới 18. Ở Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm người dưới 18 tuổi được hiểu: là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đủ về quyền và nghĩa vụ công dân.
Theo cách hiểu khác, người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên do những hạn chế về mặt nhận thức nên trong quan hệ pháp luật vẫn chưa được pháp luật công nhận với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ. Do đó, trong khoa học pháp lý, người dưới 18 tuổi là một chủ thể đặc biệt của pháp luật, được pháp 11 luật quốc tế cũng như các quốc gia trên thế giới bảo hộ bằng những quy chế chuyên biệt. Pháp luật quốc tế quan niệm người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên hoặc trẻ em – những người chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ, kiểm soát chính xác suy nghĩ, hành vi của mình. Trong các quy tắc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1990 của Liên Hợp quốc cho rằng: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi (điểm a Quy tắc 11)… Trong khi đó, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 mặc dù không định nghĩa người thành niên hay chưa thành niên nhưng các quy định về quyền công dân, nhất là quyền về chính trị đã thể hiện rõ quan điểm về công dân thành niên là công dân đủ 18 tuổi trở lên.
Tại khoản 1, Điều 21 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 cũng quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Như vậy, trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, về cơ bản đều quy định người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên. Như vậy, “người dưới 18 tuổi phạm tội” là một khái niệm có phạm vi đối tượng khác nhau tùy thuộc vào quy định về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của cá nhân trong pháp luật của mỗi quốc gia. Về điều kiện để cá nhân phải gánh chịu trách nhiệm hình sự bao gồm hai yếu tố đó là năng lực TNHS và độ tuổi chịu TNHS.
Một người chỉ có năng lực TNHS khi người đó đạt đến độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh lý khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới từ lâu đều thừa nhận tình trạng không có năng lực TNHS đối với người bị mắc bệnh tâm thần. Tuy nhiên, quan điểm về độ tuổi chịu TNHS lại không thống nhất mà được quy định rất khác biệt trong pháp luật các quốc gia trên thế giới. Điều này 12 hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của các nhà làm luật và dường như không có quy luật chung, một số quốc gia tuy không có sự khác biệt lớn về văn hóa hay đặc điểm nhân chủng, tâm sinh lý lại quy định khác nhau về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như: Singapore, Ấn Độ, Kenya, Jamaica là 7 tuổi; Scotland là 8 tuổi; Hà Lan, Canada 12 tuổi; Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch và Na Uy là 15 tuổi; các bang của Hoa Kỳ quy định khác nhau có thể là 16 hoặc 18 tuổi ….
Trong khi đó, theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 250, 250, 255, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này. Như vậy, điều này có nghĩa, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS nếu phạm phải một trong các tội được liệt kê đã nêu ở trên và mức hình phạt cụ thể được giảm nhẹ đối với đối tượng này được nhà làm luật quy định cụ thể trong từng trường hợp tương ứng với các độ tuổi khác nhau. Trong khi đó tại Điều 9 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng như sau: Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù. Còn tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
13 Từ những phân tích trên, có thể hiểu: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do hạn chế về đặc điểm tâm sinh lý, có lỗi trong việc thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự”. Đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội Theo khoa học về y học, độ tuổi chưa thành niên là độ tuổi khá nhạy cảm. Vì ở lứa tuổi này, các em chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, do bộ não của các em đang trong quá trình hoàn thiện, cơ thể và tâm sinh lý của các em có những sự thay đổi mạnh mẽ. Chính vì sự chưa hoàn thiện của hệ thống não bộ dẫn đến người dưới 18 tuổi có những sự khác biệt so với người đã thành niên về trạng thái tâm lý, ý thức, như: đặc điểm về thể chất, nhu cầu và nhận thức.
Đặc điểm về thể chất của người dưới 18 tuổi phạm tội trong hoạt động xét xử Ở người dưới 18 tuổi, sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc. Sự phát triển không cân bằng của hệ tim và mạch, tim phát triển nhanh hơn các mạch máu đã dẫn đến sự thiếu máu trong từng bộ phận trên vỏ não và đôi khi còn làm rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch, dẫn đến sự rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch. Do đó, các em thường có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, dễ bị kích động, nổi nóng. Đồng thời, tuyến nội tiết ở các em hoạt động mạnh gây ra sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương, dễ dẫn đến phát sinh những hành vi bất thường, nhiều em đã không làm chủ được bản thân, không kiềm chế được xúc động mạnh nên đã có những hành vi bồng bột, sai lầm.
Đặc điểm về nhu cầu của người dưới 18 tuổi phạm tội trong hoạt 14 động xét xử Sự phát triển của trẻ em trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, ở từng độ tuổi khác nhau, nhưng tựu chung lại có những nhu cầu cơ bản như: nhu cầu được yêu thương, đồng cảm; nhu cầu an toàn; nhu cầu khẳng định bản thân; nhu cầu giao lưu; nhu cầu tự do, độc lập, thích khám phá. Đối với những trường hợp trẻ em được sống trong môi trường giáo dục tốt, có sự định hướng thì những nhu cầu này được đảm bảo để họ phát triển và hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, đối với những trường hợp không được bảo đảm những nhu cầu trên như: Không nhận được sự yêu thương, đồng cảm của cha mẹ, thầy cô, những việc làm của họ không nhận được sự tôn trọng của những người xung quanh hoặc sống trong gia đình có cha mẹ thường xuyên cãi nhau, gia đình không có cấu trúc hoàn chỉnh hoặc những mối quan hệ, giao lưu của các em không được định hướng, chọn lọc thì nguy cơ phạm tội cao hơn bình thường. Đặc điểm về nhận thức của người dưới 18 tuổi phạm tội trong hoạt động xét xử Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội.
Thực tiễn cho thấy, những người dưới 18 tuổi còn rất non nớt về nhân sinh quan nên nhận thức của họ thường một chiều và ở một vài khía cạnh chưa đầy đủ. Do chưa phát triển hoàn thiện về thể lực, trí tuệ, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ về những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày. Đồng thời, các em chưa có nhận thức đầy đủ về pháp luật nên trong nhiều trường hợp không biết hành vi của người phạm tội là nguy hiểm cho bản thân và xã hội. Cùng với những nhu cầu của cá nhân, dẫn đến các em thường dễ mắc sai lầm, dễ bị các đối tượng phạm tội lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Từ những đặc điểm của người dưới 18 tuổi cho thấy, do có sự phát 15 triển chưa hoàn thiện về tâm, sinh lý của lứa tuổi, người dưới 18 tuổi có thái độ, nhận thức chưa hoàn chỉnh trong giao tiếp xã hội, đòi hỏi xã hội phải dành cho họ những đối xử phù hợp với lứa tuổi. Điều này đồng nghĩa với việc cần thiết phải có cơ chế riêng biệt trong TTHS khi xét xử các vụ án có người dưới 18 tuổi phạm tội.