CHƯƠNG I: MOT SO VAN DE CHUNG VE BẢO VỆ QUYEN CON NGƯỜI CUA BI CAO LA NGƯỜI DƯỚI 18 TUOI TRONG GIAI DOAN XÉT XU VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm và đặc điểm bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự Bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi nói riêng là một phạm trù mang tính nhân loại, đã được ghi nhận trong luật pháp quốc tế và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Đó là quyên sống, quyên bat khả xâm phạm về thân thé, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; quyền bình đăng trước pháp luật, quyền không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; quyền được đối xử nhân đạo, xét xử công bằng trước Tòa án; quyền được bồi thường khi bị cơ quan nhà nước và công chức nhà nước gây thiệt hại về vật chất và tinh thần. Ở nước ta, bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi luôn được Nhà nước chú trọng thê hiện qua các lần sửa đổi, bố sung, hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 cũng đã dành riêng Phần thứ bảy về Thủ tục đặc biệt về những vụ án mà các bị can, bị cáo là người chưa thành niên (gồm 10 điều, từ Điều 271 đến Điều 280).
Luật đã quy định trình tự, thủ tục trong điều tra, truy tố và xét xử; Bắt, tạm giữ, tạm giam; Việc giám sát bi can, bi cáo chưa thành niên; Bào chữa; Việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội; Xét xử của Tòa án; Việc chấp hành hình phạt tù; Chấm dứt việc chấp hành biện pháp tư pháp và giảm thời hạn chấp hành hình phạt; Xoá án. đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Qua 15 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 bộc lộ một số hạn chế cần phải được sửa đôi, bố sung. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng đã dành riêng Phan thứ bảy về Thủ tục đặc biệt về Thủ tục tổ tụng đối với người dưới 18 tuổi (Gồm 18 điều, từ Điều 413 đến Điều 430).
Điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là đã quy định nguyên tắc cơ bản trong tổ tụng đối với người dưới 18 tuổi, đó là bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tudi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuôi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi. Đồng thời, quy định cụ thé trình tự thủ tục đối với người dưới 18 tuổi trong điều tra, truy tố, xét xử và các áp dụng các biện pháp tư pháp khác. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng dành Phần thứ bảy về Thủ tục tố tụng đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi (gồm 18 điều, từ Điều 413 đến Điều 430). So với hai Bộ luật tố tụng hình sự trước đây (năm 1988 và 2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nêu nhiều quy định cụ thé, rõ ràng hơn trong quá trình tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, như: Xác định tuôi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi; Giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi; Việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tô chức; Bảo đảm việc bào chữa; áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị tran.
Tat cả những quy định mới này nhằm bảo đảm tốt hơn việc bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo là người đưới 18 tuổi trong quá trình tố tụng, tạo điều kiện cho các cơ quan tiễn hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án nhân dân các cấp trong việc xét xử các vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi bị buộc tdi. Dé hiểu rõ hon về van dé nay, trudc hét, hoc vién thiét nghi cần làm rõ một số khái niệm cụ thể sau đây: 1. Khái niệm bị cáo Thuật ngữ “bi cáo” từ lâu đã được sử dung trong nhiều sắc lệnh về tô chức các cơ quan tư pháp do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký từ năm 1945. Tuy nhiên, đến năm 1974, định nghĩa về bị cáo mới được ghi nhận lần đầu tiên tiên trong Bản hướng dẫn về trình tự tổ tụng sơ thấm về hình sự ban hành kèm theo Thông tư 16/TATC ngày 27/9/1974 của Toà án nhân dân tối cao.
Theo đó, bi cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước Toà án.3] Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã dành hắn một chương dé định nghĩa về những người tham gia tố tụng hình sự. Khoản 1 điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Bi cáo là người hoặc pháp nhân đã bi Tòa án quyết định dua ra xét xử. Quyên và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định cua Bộ luật nay.” Theo đó, khi có quyết định của Toà án đưa bị can ra xét xử thì người hoặc pháp nhân đó mới được gọi là bị cáo. Nếu chưa có quyết định của Toà án đưa ra xét xử thì vẫn chưa được gọi là bị cáo, cho dù hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng quyết định truy t6 đã được gửi cho Toà án.
Xét từ góc độ nhân quyên, khái niệm bị cáo còn có ý nghĩa là được xét xử nhanh chóng, không được chậm ché dé tòa án ra quyết định về lời buộc tội đối với họ. Một cá nhân hay một pháp nhân nào đó có thé bị truy tố về hình sự nhưng ở giai đoạn tiền xét xử, họ chỉ được coi là bị can. Yếu tố pháp lý quyết định một người hay một pháp nhân trở thành bị cáo là quyết định bằng văn bản của tòa án có thầm quyền, độc lập đưa cá nhân hay pháp nhân đó ra xét xử. Ở giai đoạn xét xử - giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình tố tụng hình sự, bên cạnh một số quyền chung giống như bị can ở giai đoạn tiền xét xử, bị cáo còn có các quyền quan trọng khác trong xét xử hình sự.
Người dưới 18 tuổi Điều 1 Công ước quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 20/11/1989 đã định nghĩa về trẻ em như sau: “Tré em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hon”. Mục a quy tắc 2.1 trong Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) được thông qua ngày 14/12/1990 đã nêu cụ thé như sau: “Người chưa thành niên là người 10 dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này can phải được pháp luật xác định và không được tước quyên tự do của người chưa thành niên ”. Bên cạnh đó, các điều ước quốc tế khác như: Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (United Nations Standart Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice/ Beijing Rules) ngày 29/11/1985; Hướng dan của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14/12/1990 cũng có quy định về người chưa thành niên.
Theo quan niệm quốc tế, trẻ em (child) là người dưới 18 tuôi, người chưa thành niên (juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (youth) là người từ đủ 15 đến 24 tuổi, còn người trẻ tuổi (young people) bao gồm: trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên.61-68] Như vậy, chúng ta có thê thấy răng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người chưa thành niên, pháp luật quốc tế đã hoàn toàn dựa vào đặc điểm về tâm, sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần của trẻ thông qua việc xác định độ tuôi. Ké cả khái niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra những khả năng mở cho các quốc gia tùy điều kiện kinh tế - xã hội - văn hóa của minh dé có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn. Nội dung các quy tắc trên có tính đến sự đa dang và cơ cấu pháp luật của mỗi quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người dưới 18 tudi, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý những người dưới 18 tuôi vi phạm pháp luật. Tại Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Trẻ em năm 2016,.
và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đều xác định tuổi của người chưa thành niên là đưới 18 tuổi, và kèm theo đó là những chế định pháp luật rõ ràng đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thé. Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi ”. Điều 1 Luật 11 Bảo vệ, chăm sóc va giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân dưới 16 tuổi ”. Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 đã nêu rõ: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.
Do đó, người chưa thành niên được xác định ở đây là người đưới 18 tuổi.61-68] Một điểm mới đặc biệt trong nền lập pháp nước ta, đó chính là sự thay đổi thuật ngữ từ “người chưa thành niên” thành “người đưới 18 tuổi” trong tất cả các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Sự thay đổi nêu trên nhằm mục đích tránh sự mâu thuẫn giữa các bộ luật hiện hành là Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự với Luật bảo vệ, chăm sóc va giáo dục trẻ em. Theo đó, trẻ em là người chưa thành niên chứ không phải là người dưới 16 tuổi. Việc nâng độ tuổi của trẻ em giúp cho những người thuộc nhóm tuổi từ đủ 16 tuổi đến chưa thành niên sẽ nhận được chính sách bảo vệ, chăm sóc, giáo dục về đạo đức, nhân cách, tâm lý cùng với các kỹ năng sống, qua đó từng bước phòng ngừa và giảm số lượng vụ án có liên quan đến người dưới 18 tuổi.