CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Quan điểm và mô hình tư pháp người dưới 18 tuổi trên thế giới 1. Quan điểm pháp luật quốc tế về tư pháp hình sự người dưới 18 tuổi Bộ luật nhân quyền quốc tế (the International Bill of Human Rights) là cốt lõi của văn kiện quốc tế về quyền con người. Trong đó, Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự năm 1966 (ICCPR)22 có vai trò rất quan trọng đối với việc ràng buộc tính pháp lý đối với những quốc gia tham gia vào công ước về việc tôn trọng cũng như phải bảo đảm các quyền dân sự và chính trị của con người.23 Đến năm 1989, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 198924 ra đời nhằm đảm bảo cho sự phát triển tốt nhất cho trẻ em.25 Theo đó, hai văn kiện quốc tế này hướng đến việc trẻ em được hưởng tất cả các quyền trong mà Công ước đã quy định.
Ngoài ra, còn có các văn kiện quốc tế khác quy định về tư pháp đối với người dưới 18 tuổi như Quy tắc Bắc Kinh, Hướng dẫn làm việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự (Nghị quyết 1997/30 của Liên Hợp quốc). Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự năm 1966 (ICCPR) Theo quy định của ICCPR thì “tố tụng áp dụng đối với những người chưa thành niên phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ”.26 Theo quy định này, trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên, các thủ tục tố tụng cần xem xét đến độ tuổi của họ và thúc đẩy sự tái hoà nhập của họ. Đồng thời, Ủy ban nhân quyền cũng đưa ra khuyến nghị tại Bình luận chung số 32, kêu gọi các quốc gia phải thành lập một hệ thống tư pháp người chưa thành niên thích hợp để đảm bảo rằng người chưa thành niên được đối xử một cách phù hợp với độ tuổi của họ, phải căn cứ vào mức độ trưởng thành về thể chất và tinh thần của người chưa thành niên để xác lập một độ tuổi tối thiểu mà dưới tuổi đó thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.27 Và cũng tại Bình luận chung số 22 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị có tên tiếng Anh là International Convenant on Civil and Political Rights, viết tắt là “ICCPR” 23 Việt Nam tham gia công ước năm 1982 24 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em có tên tiếng Anh là Convention on the Rights of the Child, viết tắt là “CRC”. 25 Việt Nam tham gia vào năm 1990 và là quốc gia thứ hai trên thế giới và đầu tiên của Châu Á phê chuẩn Công ước này 26 Khoản 4, điều 14 ICCPR.
27 Xem: General Comment No. 32, CCPR/C/GC/32, 23 August 2007, para. 43, Nguồn: https://www.html (truy cập lần cuối vào 12/9/2021) 10 32 này, Ủy ban nhân quyền cũng đưa ra khuyến nghị các quốc gia áp dụng những biện pháp xử lý thay thế cho biện pháp tố tụng hình sự để giải quyết các vụ phạm pháp của người chưa thành niên.28 Theo đó, các biện pháp gợi ý được Ủy ban nhân quyền nêu ra là:29 - Hoà giải giữa người vi phạm và người bị hại; - Hội ý với gia đình của người vi phạm; - Tư vấn hoặc cung cấp những dịch vụ cộng đồng hoặc các chương trình giáo dục người vi phạm,. Và các biện pháp phải tuân thủ điều kiện là tương thích với các yêu cầu của ICCPR và các tiêu chuẩn quốc tế khác về quyền con người.
Như vậy, ICCPR ghi nhận rằng vấn đề tư pháp người chưa thành niên phải xem xét dựa vào độ tuổi của họ và việc xử lý họ phải nhằm mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách. Bên cạnh đó, Uỷ ban nhân quyền cũng khuyến nghị các quốc gia phải thành lập một hệ thống tư pháp phù hợp cho người chưa thành niên đồng thời khi giải quyết các vụ phạm pháp của đối tượng này cần áp dụng những biện pháp xử lý thay thế cho biện pháp tố tụng hình sự30. Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 - CRC Đây là văn kiện được xem là có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến các quyền dân sự và chính trị của trẻ em. Có nhiều điều khoản điều chỉnh đến tư pháp hình sự đối với người dưới 18 tuổi dựa trên nguyên tắc chung được văn kiện nêu ra, bao gồm: Thứ nhất, nguyên tắc trẻ em không bị phân biệt đối xử (điều 2)31.
Theo đó, các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những quyền được nêu ra trong công ước này đối với mọi trẻ em thuộc quyền tài phán của họ mà không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính 28 Xem thêm: General Comment No. 32, CCPR/C/GC/32, 23 August 2007, para. 44, Nguồn: https://www.html (truy cập lần cuối vào 12/9/2021) 29 Xem thêm General Comment No. 32, CCPR/C/GC/32, 23 August 2007, para.
44, Nguồn: https://www. States Parties shall respect and ensure the rights set forth in the present Convention to each child within their jurisdiction without discrimination of any kind, irrespective of the child's or his or her parent's or legal guardian's race, colour, sex, language, religion, political or other opinion, national, ethnic or social origin, property, disability, birth or other status. States Parties shall take all appropriate measures to ensure that the child is protected against all forms of discrimination or punishment on the basis of the status, activities, expressed opinions, or beliefs of the child's parents, legal guardians, or family members”. 11 trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc, sắc tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, thành phần xuất thân hay địa vị khác của trẻ em hoặc cha mẹ hay người giám hộ hợp pháp của trẻ em đó.
Các Quốc gia thành viên phải thi hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ trước mọi hình thức phân biệt đối xử hoặc trừng phạt vì các lý do địa vị, hoạt động, những ý kiến phát biểu hoặc tín ngưỡng của cha mẹ, người giám hộ pháp lý hoặc những thành viên khác trong gia đình của trẻ em. Thứ hai, nguyên tắc đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em (Điều 3). Theo đó, “trong tất cả những hành động liên quan đến trẻ em, dù do các cơ quan phúc lợi xã hội công cộng hay tư nhân, toà án, các nhà chức trách hành chính hay các cơ quan lập pháp tiến hành thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu”32. Đây là nguyên tắc được xem là mang tính định hướng cho việc ghi nhận và áp dụng các quyền đối với trẻ em trong công ước, mặc dù không thể hiện hay nêu ra, giải thích “lợi ích tốt nhất”.
Về bản chất nguyên tắc cho thấy mang tính chất chủ đạo đối với việc áp dụng quyền của trẻ em một cách có lợi ích tốt nhất và bao hàm trong đó là những quyền tư pháp đối với trẻ em. Thứ ba, nguyên tắc về quyền tồn tại và phát triển cuộc sống (điều 6). Nguyên tắc này ghi nhận quyền sống là quyền vốn có, các quốc gia phải bảo đảm đến mức tối đa có thể được sự sống còn và phát triển của trẻ em33. Theo nguyên tắc này, việc bảo đảm quyền sống, quyền phát triển là việc bắt buộc đối với mỗi quốc gia, trong đó cũng liên quan đến tư pháp hình sự đối với trẻ em đặc biệt là trong chế định về hình phạt.
Thứ tư, nguyên tắc về quyền được tham gia của trẻ em (điều 12). Theo nguyên tắc này, trẻ em có quyền được tự do biểu đạt và phát biểu quan điểm của mình về mọi vấn đề có liên quan đến trẻ em. Khi thực hiện quyền này, trẻ em phải được tôn trọng và không có bất kì một cản trở nào. Từ đó, “trẻ em phải được đặc biệt trao cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có liên quan đến trẻ, trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy tắc thủ tục trong pháp luật quốc gia”34.
In all actions concerning children, whether undertaken by public or private social welfare institutions, courts of law, administrative authorities or legislative bodies, the best interests of the child shall be a primary consideration”. States Parties recognize that every child has the inherent right to life. States Parties shall ensure to the maximum extent possible the survival and development of the child. For this purpose, the child shall in particular be provided the opportunity to be heard in any judicial and administrative proceedings affecting the child, either directly, or through a representative or an appropriate body, in a manner consistent with the procedural rules of national law”.
12 Ngoài những nguyên tắc chung, CRC còn quy định trực tiếp đến các vấn đề về tư pháp đối với người chưa thành niên. Cụ thể, điều 37, CRC quy định: “Người chưa thành niên chỉ bị bắt, giam giữ hoặc phạt tù khi đó là giải pháp cuối cùng”35 hay “những người dưới 18 tuổi nếu gây ra những hành động phạm pháp sẽ không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng được phóng thích”36. Tại khoản 1, điều 40, CRC cũng quy định: “Các quốc gia thành viên công nhận quyền của mọi trẻ em bị coi là, bị tố cáo hay bị công nhận là đã vi phạm pháp luật hình sự, được đối xử theo cách thức phù hợp với việc cổ vũ ý thức của trẻ về phẩm cách và phẩm giá nhằm làm tăng lòng tôn trọng của trẻ em đối với những quyền con người và tự do cơ bản của người khác và cũng phải tính đến lứa tuổi của trẻ em và hướng tới thúc đẩy sự tái hoà nhập và việc đảm đương một vai trò xây dựng của trẻ em trong xã hội”37. Đồng thời, CRC cũng đưa ra các quy định đảm bảo tố tụng tối thiểu cho người chưa thành niên vào thời điểm bị bắt giữ, xét xử và kết án và yêu cầu các quốc gia thành viên quy định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự và các biện pháp xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự mà không phải áp dụng thủ tục tố tụng tư pháp chính thức.
Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa vi phạm pháp luật của người chưa thành niên (Hướng dẫn Riyadh)38 Trong hướng dẫn này cũng ghi nhận những quy tắc nhằm phòng ngừa vi phạm pháp luật của người chưa thành niên.