Bảo Vệ Quyền Của Người Chưa Thành Niên Trong Tư Pháp Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2008

157
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý luận chung về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam

1.1. Khái niệm bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự

1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự

1.1.2. Khái niệm bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự

1.1.3. Cơ sở để nhà làm luật quy định quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự

1.2. Lược sử hình thành và phát triển những quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam

1.2.1. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự thời kỳ phong kiến (X-XIX)

1.2.2. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự thời kỳ Pháp thuộc

1.2.3. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự từ năm 1945 đến 1985

1.2.4. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự từ năm 1985 đến nay

2. CHƯƠNG 2: Những quy định của Tư pháp hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên và thực tiễn áp dụng

2.1. Những quy định của Tư pháp hình sự Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền của người chưa thành niên

2.2. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án

2.2.1. Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội

2.2.2. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội thông qua chế định hình phạt

2.2.3. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội thông qua các biện pháp tư pháp

2.2.4. Đối tượng chứng minh trong vụ án có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên

2.2.5. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong những vụ án có người chưa thành niên phạm tội

2.2.6. Người tham gia tố tụng trong những vụ án có người chưa thành niên phạm tội áp dụng biện pháp ngăn chặn và giám sát đối với người chưa thành niên phạm tội

2.2.7. Thủ tục tố tụng trong vụ án có người chưa thành niên tham gia

2.3. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên với tư cách người bị hại, người làm chứng

2.4. Thực tiễn áp dụng những quy định của Tư pháp hình sự Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên

2.4.1. Tình hình người chưa thành niên phạm tội gia tăng

2.4.2. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện

2.4.3. Thực tiễn điều tra về điều kiện sống, giáo dục và việc xác định có hay không người thành niên xúi giục

2.4.4. Thực tiễn áp dụng quy phạm về quyền bào chữa của người chưa thành niên

2.4.5. Áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên

2.4.6. Thực tiễn áp dụng các quy định về bảo vệ quyền cho người chưa thành niên là người bị hại, người làm chứng

2.4.6.1. Hoạt động lấy lời khai
2.4.6.2. Hoạt động đối chất
2.4.6.3. Hoạt động nhận dạng

3. CHƯƠNG 3: Các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam

3.1. Hoàn thiện các quy định của Pháp luật hình sự bảo vệ quyền của người chưa thành niên

3.2. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự bảo vệ quyền của người chưa thành niên

3.2.1. Về phạm vi áp dụng của Bộ luật tố tụng hình sự

3.2.2. Về điều tra, truy tố, xét xử

3.2.3. Về bắt, tạm giữ, tạm giam

3.2.4. Về giám sát bị can, bị cáo là người chưa thành niên

3.2.5. Việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội

3.2.6. Về xét xử

3.2.7. Về chấp hành hình phạt tù

3.2.8. Về xoá án tích

3.2.9. Hoàn thiện các quy định khác trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và các văn bản pháp luật khác

3.3. Các giải pháp đảm bảo

3.3.1. Thành lập Toà án cho người chưa thành niên

3.3.2. Lý do thành lập Toà án dành cho người chưa thành niên

3.3.3. Về cơ cấu tổ chức

3.3.4. Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Tư pháp, đội ngũ bổ trợ tư pháp

3.3.5. Nâng cao ý thức pháp luật cho người chưa thành niên và cho nhân dân

3.3.6. Tăng cường hợp tác quốc tế

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bảo Vệ Quyền NCTN Trong Tư Pháp HS

Vấn đề tội phạm và các chính sách, pháp luật liên quan là vô cùng quan trọng đối với xã hội, hướng tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng mà ở đó cơ hội và các quyền tự do được đảm bảo tối đa cho mỗi cá nhân. Tầm quan trọng này càng được nhấn mạnh hơn đối với nhóm tội phạm là người chưa thành niên (NCTN), những người được xem là nền tảng tương lai của xã hội nhưng lại mang trong mình những đặc trưng non nớt và cần sự quan tâm giáo dưỡng đặc biệt. Thực tiễn cho thấy Liên hợp quốc đã tổ chức hội nghị toàn thế giới để bàn cách đấu tranh phòng chống tội phạm là NCTN, cùng với nhiều chương trình, nội dung quan tâm tới nhóm xã hội đặc thù này. Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam cũng đã có những bước đi kịp thời và phù hợp với các thông lệ cũng như chuẩn mực pháp lý quốc tế.

1.1. Khái niệm Người Chưa Thành Niên trong Tư Pháp HS

Để làm sáng tỏ khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự, cần xem xét khái niệm này trong Tư pháp hình sự quốc tế. Trẻ em - người chưa thành niên và việc bảo vệ quyền của họ là một vấn đề được cả thế giới quan tâm. Trong những năm gần đây, tình trạng NCTN phạm tội gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ vi phạm, trong khi tư pháp hình sự chưa có những cơ chế đầy đủ để bảo vệ quyền cho họ. Bên cạnh đó, quyền của NCTN là người bị hại và người làm chứng cũng chưa được đảm bảo thỏa đáng. Bảo vệ quyền của NCTN, đảm bảo cho họ phát triển toàn diện, hài hòa cả về thể chất và tinh thần là mối quan tâm chung của toàn xã hội.

1.2. Quyền Trẻ Em Theo Công Ước Quốc Tế Định Nghĩa

Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận: “Trong phạm vi của công ước này, Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Theo cách hiểu thông thường, từ “Trẻ em” có nghĩa là người chưa thành niên. Theo điều này Công ước đã ghi nhận, khái niệm người chưa thành niên được hiểu là mọi trẻ em dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia có quy định khác. Trong quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về Tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) không nói rõ người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi mà chỉ đưa ra khái niệm chung chung là “trẻ em” hoặc “người ít tuổi”.

II. Thực Trạng Thách Thức Bảo Vệ Trẻ Em Phạm Tội Hiện Nay

Thực tiễn cho thấy, số lượng người chưa thành niên phạm tội đang có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng, tính chất liều lĩnh của hành vi phạm tội. Do NCTN có những đặc điểm khác so với người thành niên nên trong quy định của Tư pháp hình sự Việt Nam có những quy định đặc thù áp dụng đối với họ. Bộ luật hình sự năm 1999 dành chương thứ X và Bộ luật tố tụng hình sự trong Phần thứ bảy chương XXXII cũng quy định thủ tục tố tụng đặc biệt dành cho NCTN nhằm bảo đảm những quyền lợi của họ. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng các quy định của tư pháp hình sự Việt Nam bảo vệ quyền của NCTN trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế cần có những điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp.

2.1. Tình Hình Người Chưa Thành Niên Phạm Tội Gia Tăng

Những năm gần đây ở nước ta, số lượng người chưa thành niên phạm tội đang có chiều hướng gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng, tính chất liều lĩnh của hành vi phạm tội. Điều này đặt ra những thách thức lớn đối với hệ thống tư pháp hình sự trong việc bảo vệ quyền lợi của NCTN, đồng thời đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Cần có những nghiên cứu sâu sắc hơn về nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tình trạng này để có những giải pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.2. Hạn Chế Trong Áp Dụng Pháp Luật Về Quyền Trẻ Em

Thực tiễn áp dụng các quy định của tư pháp hình sự Việt Nam bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế cần có những điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp. Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu, trình độ nghiệp vụ và sự hiểu biết về khoa học giáo dục đối với người chưa thành niên còn yếu cũng đã cộng thêm những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi tính ưu việt của các quy phạm tư pháp hình sự bảo vệ quyền của người chưa thành niên.

III. Quy Trình Tố Tụng Đặc Biệt Cho NCTN Hướng Dẫn Chi Tiết

Bộ luật hình sự năm 1999 dành chương thứ X và Bộ luật tố tụng hình sự trong Phần thứ bảy chương XXXII cũng quy định thủ tục tố tụng đặc biệt dành cho người chưa thành niên nhằm bảo đảm những quyền lợi của họ. Quy trình này bao gồm nhiều giai đoạn, từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án, với những quy định riêng biệt nhằm đảm bảo sự thân thiện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của NCTN.

3.1. Cơ Quan Điều Tra và Người Chưa Thành Niên Quy Định

Cơ quan điều tra phải đảm bảo quyền được thông báo về quyền và nghĩa vụ, quyền được bào chữa, quyền được giữ im lặng của người chưa thành niên. Quá trình điều tra phải có sự tham gia của người đại diện hợp pháp của NCTN, giáo viên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý trẻ em. Việc lấy lời khai phải được thực hiện tại địa điểm phù hợp, tránh gây áp lực, căng thẳng cho NCTN.

3.2. Tòa Án và Người Chưa Thành Niên Xét Xử Kín

Việc xét xử người chưa thành niên phải được thực hiện kín, trừ trường hợp cần thiết để giáo dục, răn đe. Thành phần Hội đồng xét xử phải có thẩm phán chuyên trách về người chưa thành niên. Bản án phải xem xét đến các yếu tố về hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, trình độ học vấn, khả năng nhận thức của NCTN để đưa ra hình phạt phù hợp, mang tính giáo dục, cải tạo.

3.3. Biện Pháp Xử Lý Thay Thế Hình Sự Cho NCTN

Pháp luật ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý thay thế hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, như khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng. Các biện pháp này nhằm giúp NCTN nhận thức được sai phạm, sửa chữa lỗi lầm, tái hòa nhập cộng đồng, tránh bị ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường trại giam.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Bảo Vệ Quyền Trẻ Em

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự, cần có những giải pháp đồng bộ, toàn diện, từ hoàn thiện pháp luật đến nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tư pháp, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan, và nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này.

4.1. Sửa Đổi Bổ Sung Các Quy Định Về Tố Tụng Hình Sự

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến người chưa thành niên, đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng. Cần quy định cụ thể hơn về quyền của NCTN trong quá trình tố tụng, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, và các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền của NCTN.

4.2. Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ Tư Pháp Về Tâm Lý Trẻ Em

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ tư pháp (thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư...) về kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ, và đặc biệt là kiến thức về tâm lý học trẻ em, giáo dục học. Cán bộ tư pháp cần có sự am hiểu sâu sắc về đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên, có thái độ tôn trọng, lắng nghe, thấu hiểu, và có phương pháp tiếp cận phù hợp với từng đối tượng.

4.3. Tăng Cường Phối Hợp Giữa Gia Đình Nhà Trường Xã Hội

Cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội, và các cơ quan chức năng trong việc giáo dục, quản lý, giúp đỡ người chưa thành niên. Cần xây dựng môi trường sống lành mạnh, an toàn, thân thiện, tạo điều kiện cho NCTN phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Cần có sự can thiệp kịp thời, hiệu quả khi NCTN có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc gặp khó khăn trong cuộc sống.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Tư Pháp Thân Thiện Với Trẻ Em

Việc xây dựng một hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Điều này đòi hỏi sự thay đổi về tư duy, nhận thức, và hành động của tất cả các bên liên quan, từ cơ quan nhà nước đến cộng đồng xã hội. Mục tiêu là tạo ra một môi trường pháp lý và xã hội mà ở đó quyền của người chưa thành niên được tôn trọng, bảo vệ, và thực hiện một cách đầy đủ.

5.1. Xây Dựng Mô Hình Tòa Án Thân Thiện Với Trẻ Em

Cần xây dựng mô hình tòa án thân thiện với trẻ em, với cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp, đội ngũ cán bộ chuyên trách, và quy trình tố tụng đặc biệt. Tòa án cần tạo ra một không gian an toàn, thoải mái, giúp NCTN cảm thấy được lắng nghe, tôn trọng, và không bị áp lực, sợ hãi.

5.2. Phát Triển Các Dịch Vụ Hỗ Trợ Pháp Lý Cho NCTN

Cần phát triển các dịch vụ hỗ trợ pháp lý miễn phí hoặc chi phí thấp cho người chưa thành niên, đặc biệt là những NCTN thuộc diện nghèo, khó khăn, hoặc bị xâm hại. Các dịch vụ này bao gồm tư vấn pháp luật, bào chữa, đại diện, và hỗ trợ tâm lý.

5.3. Tăng Cường Giáo Dục Pháp Luật Cho NCTN

Cần tăng cường giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên, giúp họ hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình, biết cách tự bảo vệ mình, và tránh xa các hành vi vi phạm pháp luật. Hình thức giáo dục cần đa dạng, sinh động, phù hợp với lứa tuổi và trình độ của NCTN.

VI. Hợp Tác Quốc Tế Về Quyền Trẻ Em Trong Tư Pháp HS

Hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự. Việt Nam cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, các quốc gia khác để trao đổi kinh nghiệm, học hỏi các mô hình tốt, và nhận được sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật.

6.1. Tham Gia Các Điều Ước Quốc Tế Về Quyền Trẻ Em

Việt Nam cần tích cực tham gia các điều ước quốc tế về quyền trẻ em, đặc biệt là Công ước về quyền trẻ em, và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết. Việc tham gia các điều ước quốc tế giúp Việt Nam tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế, và tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế.

6.2. Trao Đổi Kinh Nghiệm Với Các Nước Về Tư Pháp Vị Thành Niên

Việt Nam cần tăng cường trao đổi kinh nghiệm với các nước có hệ thống tư pháp vị thành niên phát triển, học hỏi các mô hình tốt, và áp dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Việc trao đổi kinh nghiệm giúp Việt Nam nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tư pháp, và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

6.3. Hợp Tác Với Các Tổ Chức Quốc Tế Về Bảo Vệ Trẻ Em

Việt Nam cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế về bảo vệ trẻ em, như UNICEF, Save the Children, Plan International, để nhận được sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, và nâng cao năng lực cho các cơ quan, tổ chức trong nước.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ 1. Khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Để có thể làm sáng tỏ khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự, trước hết, cần làm sáng tỏ khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự quốc tế. Trẻ em - Người chưa thành niên và bảo vệ quyền của trẻ em - người chưa thành niên trong pháp luật nói chung và trong lĩnh vực Tư pháp hình sự nói riêng là một vấn đề được cả thế giới quan tâm, bởi lẽ: Trong những năm gần đây, tình trạng người chưa thành niên phạm tội đang ngày một gia tăng cả về số lượng lẫn mức độ vi phạm nghiêm trọng nhưng tư pháp hình sự vẫn chưa có những cơ chế đầy đủ bảo vệ quyền cho họ bởi họ là những người “non nớt” về độ tuổi và khả năng nhận thức, xử sự chưa hoàn hảo, bồng bột và thiếu đúng đắn.

Bên cạnh đó, người chưa thành niên là người bị hại và người làm chứng quyền của họ cũng chưa đảm bảo một cách thoả đáng. Bảo vệ quyền của người chưa thành niên, đảm bảo cho họ phát triển toàn diện, hài hoà cả về thể chất và tinh thần là mối quan tâm chung của các bậc làm cha, làm mẹ, của nhà trường và của toàn xã hội. Vì thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, quyết định đến sự phát triển hay suy thoái của một quốc gia. Trong những năm qua, đứng trước thực trạng này, các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu để đưa ra cơ chế bảo vệ quyền của người chưa thành niên sao cho vừa tương thích với pháp luật hình sự quốc tế, vừa phù hợp với phong tục, truyền thống của pháp luật quốc gia.

7 z Người chưa thành niên - Trẻ em là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến ở nhiều ngành khoa học, dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong pháp luật cũng vậy, mặc dù đã được đề cập tới trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế song ở mỗi văn kiện, khái niệm người chưa thành niên lại tồn tại nhiều điểm khác biệt. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận: “Trong phạm vi của công ước này, Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [28 – tr1]. Theo cách hiểu thông thường, từ “Trẻ em” có nghĩa là người chưa thành niên.

Theo điều này Công ước đã ghi nhận, khái niệm người chưa thành niên được hiểu là mọi trẻ em dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia có quy định khác. Trong quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về Tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) [30 - tr1] không nói rõ người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi mà chỉ đưa ra khái niệm chung chung là “trẻ em” hoặc “người ít tuổi”. Theo quy tắc này “Người chưa thành niên phạm tội là trẻ em hay người ít tuổi bị cho là hay bị phát hiện là đã phạm tội. Quy tắc Bắc Kinh (2.2) định nghĩa: “Người chưa thành niên” và “phạm tội” là những thành tố của người chưa thành niên phạm tội.

Cần lưu ý rằng giới hạn độ tuổi phụ thuộc vào pháp luật của các quốc gia thành viên. Sự khác nhau về giới hạn độ tuổi này là điều không tránh khỏi khi xem xét hệ thống pháp luật của các quốc gia và không làm giảm hiệu lực của những Quy tắc phổ biến này về mặt pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng. Người chưa thành niên phạm tội là khái niệm không những mang tính pháp lý mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc. Trong Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Riat) mặc dù không đưa ra một cách cụ thể về khái niệm người chưa 8 z thành niên, song thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hình thành tư duy: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.

Sở dĩ có thể khẳng định như thế bởi: “Hướng dẫn này cần được giải thích và thực hiện trong phạm vi khuôn khổ của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, tuyên ngôn về quyền trẻ em, Công ước về quyền trẻ em và trong phạm vi của Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) cũng như những văn kiện và tiêu chuẩn khác có liên quan tới các quyền, lợi ích và phúc lợi của tất cả những người trẻ tuổi” [30 - tr2]. Công ước Quyền trẻ em lại quy định trẻ em là tất cả những người dưới 18 tuổi. Do đó, ta lại bắt gặp quan điểm chung về độ tuổi của người chưa thành niên trong các Công ước quốc tế. Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do một lần nữa đề cập đến khái niệm người chưa thành niên.

Bên cạnh mục đích xác định các quyền của người chưa thành niên bị tước quyền tự do thì Quy tắc còn quy định cách đối xử với trẻ em khi chúng phạm pháp. Xuất phát từ mục đích đó, khái niệm người chưa thành niên cũng được ghi nhận một cách tương đối rõ ràng và cụ thể, như một sự kế thừa của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Theo đó, “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn độ tuổi này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên” [28 – tr5].

Như vậy, mặc dù phạm vi nghiên cứu có thể khác nhau song hầu hết các văn kiện quốc tế đều đưa ra quan điểm thống nhất là: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Công ước Quyền trẻ em còn những điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho người chưa thành niên để các quốc gia căn cứ vào sự phát triển về thể chất và tinh thần của công dân nước mình mà có những quy định khác nhau về độ tuổi của người chưa thành niên nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa pháp luật và thực tiễn. 9 z Trong các Công ước quốc tế không đưa ra khái niệm thế nào là quyền của người chưa thành niên hay bảo vệ quyền của người chưa thành niên mà chỉ liệt kê quyền của người chưa thành niên như sau: Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc năm 1989 ghi nhận “Ghi nhớ rằng do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời như đã chỉ ra trong Tuyên ngôn về quyền trẻ em”. “Không trẻ em nào bị tra tấn hay bị đối xử hoặc trừng phạt tàn tệ, vô nhân đạo hay làm mất phẩm giá.

Không được xử tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng phóng thích vì những tội do những người dưới 18 tuổi gây ra. Không một trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách hợp pháp hoặc tuỳ tiện. Việc bắt, giam, giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo luật pháp và chỉ được dùng đến như một biện pháp cuối cùng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất. Như vậy, chỉ thông qua một số văn kiện pháp lý quốc tế: Công ước về quyền trẻ em, Hướng dẫn Riát, Quy tắc tối thiểu.

giúp chúng ta có được một tư duy khái quát về người chưa thành niên. Qua đó, có những khuyến nghị về việc thiết lập hệ thống tư pháp người chưa thành niên theo khuôn khổ pháp luật quốc gia nhằm mục đích vừa tôn trọng pháp luật quốc tế vừa duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền cho người chưa thành niên. Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm người chưa thành niên trong Tư pháp hình sự Việt Nam. Theo Từ điển Tiếng Việt - Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”.

10 z Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, xuất phát từ khách thể cần bảo vệ các quan hệ xã hội của từng ngành luật khác nhau nên mỗi ngành luật quy định thế nào là người chưa thành niên khác nhau: Điều 18 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 ghi nhận: “…Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên.” Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em khẳng định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”. Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.” Điều 68 Bộ luật hình sự cũng quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.” Với quy định trong các điều khoản trên có thể hiểu độ tuổi người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi.

Và như thế, có thể hiểu: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm”.[34 - 20] Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam là người dưới mười tám tuổi. Bô luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 đề cập đến khái niệm người chưa thành niên dưới hai phương diện: một 11 z mặt, họ là chủ thể của tội phạm, mặt khác họ là những người đặc biệt cần được các quy phạm pháp luật bảo vệ. Với tư cách là chủ thể của tội phạm, độ tuổi người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự là khi họ từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị Luật hình sự cấm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bảo Vệ Quyền Của Người Chưa Thành Niên Trong Tư Pháp Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quyền lợi và bảo vệ pháp lý dành cho người chưa thành niên trong hệ thống tư pháp hình sự tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, đặc biệt là trong các giai đoạn điều tra và xét xử, nhằm đảm bảo rằng họ không bị xâm phạm quyền lợi hợp pháp.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học bảo đảm quyền bào chữa của bị can là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự", nơi trình bày chi tiết về quyền bào chữa cho người chưa thành niên. Ngoài ra, tài liệu "Bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội trong hoạt động xét xử tại toà án nhân dân tỉnh đắk lắk" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thực tiễn xét xử đối với người chưa thành niên. Cuối cùng, tài liệu "Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật quốc tế và thực tế xét xử người chưa thành niên phạm tội tại việt nam" sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về các nguyên tắc quốc tế liên quan đến vấn đề này.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt thông tin mà còn mở rộng hiểu biết về quyền lợi của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự.