Chương I là: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên Hợp quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền. Với nguyên tắc đó, vấn đề quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân được nêu tại Chương II Hiến pháp 2013. Điều 14, khẳng định: Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Đó là những quyền tự nhiên, phải được thừa nhận, tôn trọng, tạo điều kiện thực hiện và bảo vệ quyền đó. Cũng tại Điều 14, khoản 2 quy định: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. - Khái niệm quyền của người chưa thành niên phạm tội. Quyền cơ bản của người chưa thành niên được luật pháp quốc tế quy định tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em thông qua ngày 20/11/1989, các bản Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên năm 1985 (gọi tắt là Quy tắc Bắc Kinh), Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên năm 1990 (gọi tắt là Hướng dẫn Riát), Quy tắc của Liên Hợp Quốc về việc bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1991 (gọi tắt là Quy tắc 1991) mà Việt nam là một trong các thành viên đã tham gia ký kết.
Nội dung các quy định nêu trong các Công ước, quy tắc có tính đến sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần của tư pháp người chưa thành niên, đề ra những nguyên tắc mong muốn và thông lệ đối với việc quản lý người chưa thành niên phạm tội; đồng thời bảo đảm rằng, 11 trong quá trình thực thi và áp dụng pháp luật thì quyền của người chưa thành niên, kể cả trong trường hợp họ là đối tượng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị vi phạm. Trên cơ sở những văn bản pháp lý quốc tế nêu trên, có thể khái quát về các quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội như sau: Một là, quyền cơ bản của người chưa thành niên được luật pháp quốc tế quy định thông qua các nguyên tắc sau: Trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện nào, sự an toàn của người chưa thành niên phải được đặt lên hàng đầu; Không bị phân biệt đối xử - tất cả các em đều được đối xử công bằng, không thiên vị, bất kể giới tính, độ tuổi, dân tộc, tôn giáo…; Người chưa thành niên phải được đối xử một cách lịch sự, tôn trọng phẩm giá và chuyên nghiệp; Trước khi xét xử, người chưa thành niên luôn luôn được suy đoán vô tội; Người chưa thành niên được đối xử theo những quy định đã nêu trong hệ thống pháp luật của quốc gia. Hai là, quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn điều tra, xét xử: Tất cả những tiếp xúc giữa cán bộ thực thi pháp luật và người chưa thành niên phải mang tính thân thiện, phải diễn ra trong một môi trường phù hợp, hỗ trợ và đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của lứa tuổi; Trong quá trình giao tiếp với người chưa thành niên, phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp và dễ hiểu với các em; Cấm các biện pháp điều tra, xét xử tùy tiện (không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục đối với người chưa thành niên phạm tội), trong mọi trường hợp, quyền riêng tư của các em phải được bảo vệ; Những thông tin cá nhân và mang tính nhạy cảm liên quan đến người chưa thành niên phải được xử lý cẩn thận và được bảo đảm bí mật; Người chưa thành niên có quyền được bảo vệ khỏi vũ lực và các hình thức lạm dụng của các cơ quan công quyền; Việc giam giữ người chưa thành niên phạm tội cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nếu mục đích chỉ là để phục vụ công tác điều tra, xét xử. Ba là, quyền của người chưa thành niên khi bị xét xử và tuyên án: Giam giữ chỉ là biện pháp cuối cùng và nếu có chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian ngắn nhất; Người chưa thành niên có quyền giữ im lặng và quyền được chuyển đến những dịch vụ hỗ trợ phù hợp; p dụng xử lý theo hướng không 12 giam giữ để tránh các thủ tục xét xử chính thức và chuyển sang các chương trình hoà nhập cộng đồng phù hợp.
Ở Việt Nam, quyền của bị cáo nói chung và bị cáo là người chưa thành niên nói riêng được pháp luật bảo đảm và bảo vệ quy định tại khoản 2 Điều 50 BLTTHS năm 2003. Ngoài ra, bị can, bị cáo là người chưa thành niên còn có các quyền khác được ghi nhận tại Chương XXXII Bộ luật TTHS- Chương quy định về thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên phạm tội. Như vậy, có thể thấy khái niệm quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên là: “ Những bảo đảm pháp lý có tác dụng bảo vệ bị can, bị cáo là người chưa thành niên khi tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân”. Khái niệm bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân Theo Từ điển tiếng Việt, “Bảo đảm” có nghĩa là làm cho chắc chắn thực hiện được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết.
Ở Việt Nam, bảo đảm quyền của người chưa thành niên là bảo đảm cho những quy định của pháp luật về người được thực hiện trên thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời bảo vệ quyền của bị cáo là người chưa thành niên khi có sự xâm hại, sự vi phạm quyền của họ từ các cơ quan, các chủ thể thực hiện việc xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên. Pháp luật tuy là yếu tố quan trọng không thể thiếu, nhưng không phải là yếu tố duy nhất bảo đảm cho họ được hưởng thụ các quyền, cũng như bảo đảm không bị tước mất quyền của họ trong hoàn cảnh đối mặt với pháp luật và là đối tượng xem xét của pháp luật. Trên cơ sở các văn bản pháp luật quốc tế nêu trên, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện. Việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội nói chung và bị can, bị cáo là người chưa thành niên nói riêng phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa hiện có của Việt Nam.
Sự phù hợp này thể hiện trên cả hai phương diện đó là xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật. Quyền của người chưa thành niên pham tội trong giai đoạn xét xử của Tòa án nhân dân được thể hiện trong Bộ luật 13 TTHS thông qua các nguyên tắc như: Thừa nhận Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự; nguyên tắc bảo vệ quyền cơ bản của công dân; Bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, suy đoán vô tội, quyền bào chữa, quyền kháng cáo, quyền minh oan. Khi người chưa thành niên phạm tội bị đưa ra xét xử, họ phải được xét xử bởi một Tòa án độc lập, công khai và công bằng. Hiến pháp cũng như BLTTHS nước ta có những quy định chặt chẽ về thủ tục xét xử những vụ án có bị cáo là người chưa thành niên trong đó ghi nhận vai trò của Tòa án trong việc xét xử đồng thời ghi nhận đầy đủ các quyền của bị cáo khi bị xét xử; trách nhiệm, nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng trong khi xét xử.
Những ghi nhận này nhằm bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân được bảo đảm thực hiện. Từ những phân tích nêu trên, có thể nêu khái niệm về bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân là: “Bảo đảm quyền người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc xác định các biện pháp bảo đảm về mặt pháp lý, về mặt tổ chức, về cơ chế chính sách bảo đảm từ phía cơ quan tòa án, những người tiến hành tố tụng để bị can, bị cáo là người chưa thành niên được thực hiện các quyền mà pháp luật đã ghi nhận cho họ” 1. Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Ở Việt Nam, bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội là bảo đảm cho những quy định của pháp luật về người được thực hiện trên thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa hiện có của Việt Nam. Sự phù hợp này thể hiện trên cả hai phương diện, đó là xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật.
Khi xét xử vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên, ngoài việc tuân thủ quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự được thực hiện đồng bộ, thống nhất trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án hình sự như đối với các vụ án hình sự thông thường, còn cần chú ý đến các quy định đặc biệt đối với những vụ án mà bị 14 can, bị cáo là người chưa thành niên. Bảo đảm quyền của bị cáo là người chưa thành niên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân có các ý nghĩa sau đây: Một là, bảo đảm quyền của bị can, bị cáo chưa thành niên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm tuân thủ trình tự, thủ tục xét xử đối với người chưa thành niên theo quy định tại Chương 32 Bộ luật Tố tụng Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, đó là: Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Việc tham gia của người bào chữa trong các vụ án người chưa thành niên phạm tội là bắt buộc.