Chương 1. Cơ sở lý luận về vai trò áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự trong bối cảnh xây dựng nhà nước ở nước ta hiện nay Chương 2. Thực trạng áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự, qua thực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hải phòng Chương 3. Quan điểm, giải pháp cơ bản đảm bảo vai trò áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VAI TRÒ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ 8 z XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN 1.
NHẬN THỨC CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 1. Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức thực hiện pháp luật Trước khi nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự, và vai trò của hoạt động này, để có cái nhìn toàn diện về cơ sở lý luận, cần thiết phải tìm hiểu áp dụng pháp luật nói chung trong tất cả các lĩnh vực pháp luật. Áp dụng pháp luật là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật theo lý luận nhà nước và pháp luật. Tuy có những đặc trưng riêng song áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự cũng có những đặc điểm chung như các hình thức áp dụng pháp luật khác.
- Khái niệm và vai trò của thực hiện pháp luật Pháp luật chỉ có ý nghĩa thực sự khi được thực hiện trong cuộc sống, tức là tính hiện thực của các quy phạm, các nguyên tắc của pháp luật. Thực hiện pháp luật hiện nay đang có nhiều hạn chế, bất cập trong đó có áp dụng pháp luật hình sự. Nếu các quy định pháp luật không được thực hiện cũng như pháp luật xa rời thực tế cuộc sống thì sẽ giảm hoặc mất ý nghĩa, giá trị của pháp luật. Các Mác đã từng khẳng định: “pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội" và, "chừng nào bộ luật không còn thích hợp với xã hội nữa thì nó sẽ biến thành mớ giấy lộn"[2].
Trong lý luận nhà nước và pháp luật, khái niệm thực hiện pháp luật đã được quan tâm nghiên cứu và có sự thống nhất về cơ bản. 9 z Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật[3]. Pháp luật của nhà nước ta ngày càng thể hiện rõ tính pháp quyền, dân chủ, đặc biệt là việc xác định và cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội nước ta thông qua, chương 2 “Quyền con người và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân” được coi là một bước tiến mới trong nhận thức về quyền con người mà các bản hiến pháp trước đó chưa có.
Điều quan trọng đặt ra là việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là đảm bảo tính hiện thực của các quyền con người, quyền công dân. Pháp luật của nhà nước ta là hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận), có tính bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế; nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh[3]. Trong bối cảnh đó, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay. Các quy định của pháp luật được thực hiện trong thực tế thì chúng mới có ý nghĩa thiết thực.
Các chế tài trong các quy phạm pháp luật sẽ được thực hiện khi có sự xâm phạm đế các quyền, lợi ích của các chủ thể mà pháp luật đã ghi nhận và đảm bảo thực hiện cho họ. Để thực hiện các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định, các chủ thể phải thực hiện đúng các trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật. Tầm quan trọng của thực hiện pháp luật đã được quan tâm đầy đủ hơn trong những năm gần đây song song với hoạt động xây dựng pháp luật. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã xác định rõ xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật mà trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân 10 z dân, lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng và về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước[4].
Như vậy, trên cơ sở ý kiến của nhân dân trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật và xây dựng pháp luật thì pháp luật sẽ được nâng cao, có hiệu quả khi được thực hiện trên thực tế. Đối với hoạt động xây dựng pháp luật, pháp luật dù được ban hành thật nhiều mà không phù hợp với thực tiễn cuộc sống thì sẽ không có tính khả thi và dẫn hoạt động áp dụng pháp luật cũng không thể thực hiện được. Chính vì vậy, nhà làm luật chỉ ngồi ở văn phòng, hội trường ban hành ra văn bản pháp luật thôi thì chưa đủ, họ cần phải có kiến thức thực tế về hiện thực xã hội để có thể dự liệu trước được những điều kiện, hoàn cảnh thực tế đang diễn ra để đưa ra những quy phạm pháp luật phù hợp. Các chủ thể trong xã hội có các quyền và nghĩa phụ pháp lý trên thực tế khi và chỉ khi pháp luật thực sự được đưa vào cuộc sống.
Để việc thực hiện pháp luật được hiệu quả, các chủ thể trong xã hội từ nhà nước, cá nhân, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền cho đến công dân, tổ chức xã hội khác phải có ý thức tự giác, có kiến thức và kỹ năng thực hành pháp luật. - Các hình thức thực hiện pháp luật Khoa học pháp lý truyền thống đã xác định bốn hình thức thực hiện pháp luật. Căn cứ chủ yếu của sự phân loại này là dựa vào tiêu chí các loại quy phạm pháp luật. Đời sống xã hội vô cùng đa dạng nên các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội cũng hết sức phong phú.
Tất nhiên, còn có thể có cách phân loại khác về hình thức, nhưng cách phân loại theo tiêu chí các loại quy phạm cũng có tính hợp lý. Có bốn hình thức thực hiện pháp luật: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật là một hình thức cơ bản, mang tính chất đặc thù. 11 z Mặc dù vậy, việc phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối vì các hình thức thực hiện pháp luật luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau.
- Tuân thủ pháp luật, còn gọi là tuân theo pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hành vi mà pháp luật ngăn cấm. Nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể pháp luật là phải tuân thủ pháp luật, không được thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm. Một khi điều này không được thực hiện, họ chắc chắn sẽ bị các chế tài trong quy phạm pháp luật trừng phạt hoặc phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định. Nhờ vào các chế tài đó mà việc tuân thủ pháp luật sẽ có tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa đề cho các chủ thể có ý thức tôn trọng và cẩn trọn không để xẩy ra.
Tuy vậy, cũng có trường hợp, cá nhân hay tổ chức tuy hiểu biết rất rõ về các quy định cấm của pháp luật song vẫn cố tình vi phạm do rất nhiều động cơ mục đích và nguyên nhân khác nhau. - Thi hành pháp luật, còn gọi là chấp hành pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Trong một văn bản pháp luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật, các quy phạm pháp luật đưa ra những quyền, nghĩa vụ pháp lý mà chủ thể pháp luật buộc phải chịu sự điều chỉnh nhất định. Những quy phạm pháp luật chứa đựng trong nó các nghĩa vụ pháp lý buộc các chủ thể bắt buộc phải thực hiện một cách tự giác bằng những hành vi tích cực của mình.
Với tính chất bắt buộc phải thực hình những hành vi một cách tự giác mà quy phạm pháp luật đã quy định cho họ các nghĩa vụ pháp lý, việc thi hành pháp luật đòi hỏi mọi chủ thể từ phía nhà nước cho đến mọi cá nhân, công dân đều thực hiện. Việc thực hiện này mang ý nghĩa tích cực, chủ động từ phía các chủ thể trong từng điều kiện hoàn cảnh mà nhà làm luật đã dự trù sẵn. Và 12 z đương nhiên, nếu các chủ thể không thi hành đúng pháp luật thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý mà các chế tài đã thể hiện trong các quy phạm pháp luật. - Sử dụng pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép Trong nhà nước pháp quyền, sử dụng pháp luật có ý nghĩa xã hội to lớn, thể hiện tính tích cực pháp lý của cá nhân, tổ chức, đặc biệt là đối với người dân trong việc sử dụng có văn hóa pháp luật các quyền hiến định và luật định của mình.
Tuy sử dụng pháp luật không phải là hình thức thực hiện pháp luật mang tính chất bắt buộc, song nhà nước cần đảm bảo những điều kiện cần thiết để các cá nhân tích cực sử dụng pháp luật một cách đúng pháp luật. Bởi vì việc sử dụng pháp luật của cá nhân có ý nghĩa không chỉ đối với họ mà còn đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, khắc phục, khôi phục các quyền con người bị xâm hại, làm lành mạnh hóa các hoạt động quản lý nhà nước.