CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố, thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm về quyền công tố, thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quyền công tố, thực hành quyền công tố Theo từ điển tiếng Việt thì quyền công tố là quyền của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dùng để điều tra, truy tố và buộc tội đối tượng phạm pháp trước Tòa án hay là quyền truy tố, buộc tội cá nhân, tổ chức trước pháp luật. “Công tố” theo Đại từ điển tiếng Việt, “công” có nghĩa là “thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư ”, còn “tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người”, “Công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [47, tr.
Ở nước Việt Nam “quyền công tố”, “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên được qui định tại Điều 138 Hiến pháp năm 1980 và được phát triển hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giúp cho việc xác định vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ chức năng của Viện kiểm sát, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố đã được đề cập nhiều trong khoa học pháp lí nước ta với các mức độ khác nhau.
Có tác giả đề cập khi giải quyết các vấn đề chung của tố tụng hình sự [25]; có những bài viết có tính chất tham khảo phân tích có hệ thống về quyền công tố và gần đây có một số luận văn thạc sĩ cũng đề cập quyền công tố trong từng phạm vi khác nhau (trong giai đoạn 8 điều tra, trong xét xử sơ thẩm. Mặc dù vậy có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố của Viện kiểm sát. Có thể tóm tắt các quan điểm khác nhau như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, “ tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đều là thực hành quyền công tố” [18, tr. Quan điểm này đánh đồng quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát.
Quan điểm thứ hai cho rằng “quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố)” [27, tr. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy nhất của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố và chỉ thực hiện duy nhất trong tố tụng hình sự và cũng chỉ có ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án. Quan điểm thứ ba cho rằng “quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật” [28, tr. Theo quan điểm này, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật nên quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.
Quan điểm thứ tư cho rằng “ quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, luật kinh tế, luật hình sự và là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó” [9, tr. Theo quan điểm này, quyền công tố của Nhà nước không chỉ được thực hiện trong tố tụng hình mà còn được thực hiện cả trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động và hành chính. Quan điểm thứ năm cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà nước được giao cho Viện kiểm sát để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nhằm đưa người đó ra xét xử và thực hiện sự buộc tội người đó trước Tòa án [33, tr. Các quan điểm trên đều có các cơ sở đề cập đến quyền công tố ở các góc độ khác nhau, tuy nhiên ở góc độ thực tiễn thực hiện công tác này, tác giả đồng tình 9 với quan điểm thứ năm vì quan điểm này phù hợp với kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam.
Trong điều kiện cụ thể, quan điểm này giúp ta xác định được: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát; quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự; nội dung của quyền công tố là truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội đối với người phạm tội; quyền công tố gắn liền với một tội phạm cụ thể; nó bắt đầu từ khi có hành vi phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật. Trong thực tế quyền công tố bắt đầu từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kết thúc khi Tòa án tuyên bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Từ những phân tích trên, học viên đưa ra khái niệm về quyền công tố là: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nhằm truy tố người phạm tội ra trước Tòa án nhân dân để xét xử và thực hiện việc buộc tội đối với người đó tại phiên tòa đảm bảo đúng qui định của pháp luật”. Xuất phát từ khái niệm quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nên thực hành quyền công tố chính là thực hiện hành vi tố tụng cần thiết theo qui định của Luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.
Tại Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 thì: “ Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”. Ngoài ra, một trong những điểm mới nổi bật trong chính sách hình sự nước ta là Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đã bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Trong đó quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự và nguyên tắc xử lý về hình sự là không chỉ có cá nhân mà pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiệm hình sự; chỉ có pháp nhân thương mại đã thực hiện tội phạm theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình sự về 31 tội danh, thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản 10 lý kinh tế và nhóm các tội phạm về môi trường. Về nguyên tắc xử lý mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, bảo đảm tính pháp chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra. Như vậy, pháp nhân thương mại qui định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phải chịu sự điều chỉnh của hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đó chính là là quyền nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, pháp nhân phạm tội nên thực hành quyền công tố cũng chính là thực hiện hành vi tố tụng cần thiết theo qui định của Luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, pháp nhân phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó. Cơ sở pháp lý trong thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát nhân dân Cơ sở pháp lý của thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát được qui định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013: “ Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố.”; Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định“Viện kiểm sát thực hành quyền công tố…trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện .nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh. Như vậy, hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự nhằm thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Theo đó, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm: Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng 11 người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở nhận thức về quyền công tố, thực hành quyền công tố được hiểu như thế nào?