Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG 1. Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội phạm tham nhũng 1. Khái niệm về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội tham nhũng Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng năm 2018 thì “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” [45]. Căn cứ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam có thể thấy nhiều hành vi được xem là tham nhũng, cụ thể Điều 2 Luật phòng chống tham nhũng năm 2018 quy định những hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và cả khu vực ngoài nhà nước bao gồm 12 hành vi đã được liệt kê tại Điều 2 Luật phòng chống tham nhũng năm 2018.
Tuy nhiên không phải hành vi tham nhũng nào cũng bị tội phạm hóa thành các tội phạm tham nhũng quy định tại BLHS 2015; trong tổng số 12 hành vi tham nhũng được liệt kê tại Luật phòng chống tham nhũng năm 2018, chỉ có 07 hành vi được tội phạm hóa thành các tội phạm về tham nhũng quy định từ Điều 353 đến Điều 359 tại mục 1, chương XXIII BLHS 2015 [43]. Để hành vi tham nhũng trở thành tội phạm trên thực tế và chịu sự điều chỉnh của Luật hình sự, cần phải thỏa mãn những dấu hiệu sau: Thứ nhất, hành vi phạm tội tham nhũng phải là hành vi gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội, tức gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho khách thể được luật hình sự bảo vệ. Những hành vi tham nhũng trước khi được quy định là tội phạm trong BLHS thì bản thân những hành vi này đã 9 xuất hiện và tồn tại trong đời sống xã hội, tuy nhiên để được “nâng tầm” trở thành tội phạm thì những hành vi tham nhũng này phải có một mức độ nguy hiểm cho xã hội hơn hẳn các hành vi tham nhũng thông thường khác và đòi hỏi phải có biện pháp xử lý mạnh tay hơn là các hình thức kỷ luật, xử lý hành chính thông thường. Các hành vi tham nhũng nói chung đều gây ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan tổ chức thông qua việc sử dụng các lợi ích vật chất, phi vật chất tác động đến hoạt động bình thường của các chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn nhưng đối với các hành vi tham nhũng được coi là tội phạm thì mức độ tác động làm biến động hoạt động bình thường của con người nghiêm trọng hơn, đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân nên rõ ràng các hành vi tham nhũng được quy định là tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn một cách đáng kể so với những hành vi tham nhũng cùng được liệt kê khác.
Cũng cần phải nhìn nhận việc đánh giá ”tính chất nguy hiểm đáng kể” cho xã hội của hành vi tham nhũng được coi là tội phạm và số lượng hành vi tham nhũng quy định trong BLHS là tội phạm tham nhũng, mức độ trách nhiệm pháp lý hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng ở những giai đoạn lịch sử khác nhau là không giống nhau mà luôn có sự cập nhật, thay đổi để phù hợp với thực tế khách quan. Thứ hai, quá trình lập pháp tại nước ta về các vấn đề liên quan đến tội phạm tham nhũng, có thể nhận thấy từ sau năm 1945 đến nay, nội dung cũng như hệ thống sắp xếp các tội phạm về tham nhũng có nhiều sự biến chuyển. Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS 1985 thì các quy định xử lý các tội phạm tham nhũng chủ yếu được quy định tại các sắc lệnh như Sắc lệnh số 223/SL, ngày 27/11/1946 về trừng trị các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ; Sắc lệnh 267/SL, ngày 15/6/1946 quy định trừng trị những âm mưu và hoạt động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã 10 và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước; Sắc luật số 03/SL, ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam quy định một số tội phạm trong đó có cả việc trừng trị các tội phạm lạm dụng chức vụ, quyền hạn, tội đưa và nhận hối lộ. Đến khi BLHS 1985 ra đời thì các tội phạm về tham nhũng được quy định tập hợp tại chương IX, gồm 8 tội danh và tại BLHS 1999 thì các tội danh về tham nhũng chỉ còn 7 tội danh và số lượng tội danh về tham nhũng vẫn được duy trì tại BLHS 2015 tuy nhiên phạm vi xử lý được mở rộng đối với cả hành vi trong lĩnh vực tư nhân [43].
Có thể thấy, việc quy định một hành vi tham nhũng trở thành tội phạm tham nhũng thể hiện quan điểm của nhà nước vào từng giai đoạn lịch sử, cân nhắc tội phạm hóa các hành vi tham nhũng thành các tội phạm tham nhũng với những chế tài hình sự, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử mà Nhà nước mở rộng phạm vi đấu tranh bằng pháp luật hình sự đối với các hành vi phạm tội tham nhũng. Nói tóm lại, một hành vi tham nhũng để có thể được tội phạm hóa, trở thành tội phạm tham nhũng được quy định trong BLHS phụ thuộc vào ý chí của giai cấp cầm quyền, quan điểm nhìn nhận, đánh giá của nhà nước về việc cần có biện pháp xử lý mạnh tay hơn đối với hành vi bằng các biện pháp hình sự hay không. Từ trước đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong giới khoa học pháp lý nói chung có rất nhiều quan điểm khác nhau về tội phạm tham nhũng; tất cả các quan điểm đều thể hiện được những dấu hiệu đặc trưng chung, chủ yếu của tội phạm này, đó là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì động cơ vụ lợi; tuy nhiên về mặt pháp lý thì ở nước ta hiện nay không ghi nhận một khái niệm về tội phạm tham nhũng trong BLHS mà chỉ quy định về tội phạm về chức vụ. Trên cơ sở xem xét quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 về khái niệm tội phạm cùng với những phân tích khái niệm tham nhũng cũng như các đặc trưng, điều kiện để 11 hành vi tham nhũng trở thành tội phạm tham nhũng và các quy định khác có liên quan, có thể nêu được khái niệm về tội phạm tham nhũng như sau: Tội phạm tham nhũng là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội được quy định trong BLHS do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi thi hành công vụ, công tác với lỗi cố ý bằng cách lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn do mình nắm giữ để thực hiện.
Tội phạm tham nhũng xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong xã hội; xâm phạm uy tín của cơ quan, tổ chức; xâm phạm tài sản, lợi ích của Nhà nước, của tổ chức; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Về nguyên tắc, một hành vi được coi là tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cần và đủ trong cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS, hay nói các khác mỗi tội phạm tham nhũng được quy định tại mục 1 chương XXIII BLHS mặc dù đều có ít nhiều sự khác biệt trong cấu thành tội phạm nhưng đều phải mang các dấu hiệu pháp lý đặc trưng chung của nhóm tội này, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng này được các nhà làm luật xác định trong quá trình xây dựng luật, giúp phân biệt nhóm tội phạm tham nhũng với các tội phạm khác. Thứ nhất, tội phạm tham nhũng xảy ra do sự thúc đẩy bởi mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác kết hợp với những điều kiện khách quan thuận lợi cho tội phạm xảy ra. Mục đích vụ lợi là một trong hai yếu tố thúc đẩy tội phạm tham nhũng xảy ra; khi thực hiện tội phạm thì người phạm tội luôn hướng đến các lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân cả về vật chất, tinh thần và các lợi ích này trên thực tế rất đa dạng.
Người phạm tội tham nhũng luôn tính toán đến việc thu lợi bất chính, bao gồm cả lợi ích vật chất như tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác.và lợi ích tinh thần như bằng khen, huy chương, 12 tình cảm. hoặc lợi ích là chức vụ, quyền hạn, án phạt hay việc được che giấu sai lầm, thiếu sót. cho bản thân, tổ chức, đơn vị mình hoặc cho người, tổ chức khác. Còn về các điều kiện thuận lợi để tội phạm xảy ra được đề cập có thể là khung cảnh thuận lợi, kín đáo; bản thân người phạm tội được giao chức vụ, quyền hạn nên có thể dễ dàng thực hiện hành vi nhũng nhiễu, vòi vĩnh, tham nhũng; kèm với đó là sự yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội, những hạn chế, bất cập và khiếm khuyết liên quan đến công tác cán bộ, công tác nhân sự; tính hiệu lực và hiệu quả thấp của cơ chế kiểm tra hoạt động của các cơ quan, tổ chức; thiếu nghiêm minh trong xử lý người phạm tội tham nhũng.
Điều kiện về mục đích vụ lợi, động cơ cá nhân và các điều kiện khách quan thuận lợi là điều kiện cần và điều kiện đủ thúc đẩy tội phạm tham nhũng xảy ra trên thực tế và đây cũng là hai vấn đề cần phải chứng minh trong điều tra các vụ án về tội phạm này. Thứ hai, về quy mô và lĩnh vực của tội phạm tham nhũng. Hiện nay, tội phạm tham nhũng được thực hiện với nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Có những vụ án thì hành vi tham nhũng chỉ là hình thức tham nhũng vặt trong việc sách nhiễu, cố ý gây phiền hà cho các tổ chức và người dân để trục lợi, nhưng cũng có những vụ án mà hành vi tham nhũng được thực hiện với quy mô lớn, có sự đan xen và phối hợp cả tham nhũng cá nhân lẫn sự câu kết chặt chẽ của nhiều chủ thể có chức vụ quyền hạn theo nhóm, thường được gọi là “nhóm lợi ích”.
Các trường hợp tham nhũng có quy mô lớn thường được lên kế hoạch tỷ mĩ, có chủ mưu và sự thao túng vào tổ chức, thể chế và chính sách của những người giữ trọng trách, vị trí chủ chốt.