mở đầu, là một giai đoạn tố tụng độc lập, chưa khởi tố vụ án thì chưa được tiến hành các hoạt động điều tra. Giai đoạn khởi tố nếu xác định không đúng tội danh, hành vi phạm tội, điều khoản BLHS quy định sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình tố tụng tiếp theo cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo. Khởi tố vụ án hình sự góp phần đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ. Nếu không thực hiện đầy đủ các hoạt động tiếp nhận, kiểm tra xác minh các nguồn thông tin về tội phạm một cách đầy đủ đúng quy định của pháp luật mà tiến hành ngay các hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng sẽ dẫn đến tình trạng quyền tự do dân chủ của công dân bị xâm phạm.2 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 1.
Quyền công tố và thực hành quyền công tố 1. Quyền công tố. Trong lịch sử pháp luật thế giới, khái niệm “công tố” đã được đề cập rất sớm như là hoạt động tố tụng trong các vụ án mà trong đó có những hành vi vi 9 phạm pháp luật, xâm hại đến các lợi ích của Nhà nước. Ở nước ta, thuật ngữ “quyền công tố” được ghi nhận lần đầu tiên tại Hiến pháp năm 1980 và tiếp theo sau đó, được ghi nhận tại Điều 23 BLTTHS năm 1988, Điều 15, Điều 16 Luật tổ chức VKSND năm 1992.
Tuy nhiên, cho đến nay, pháp luật nước ta chưa có văn bản pháp luật nào chính thức giải thích khái niệm công tố và quyền công tố. Theo Từ điển Tiếng Việt thì: Công tố là "Truy tố, buộc bị cáo và phát biểu ý kiến trước Tòa án"6. Công tố có nội hàm gồm "sự buộc tội" và “công”. Trong đó, "sự buộc tội" có nghĩa là "nội dung của sự buộc tội nêu trong quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra, cáo trạng và bản án" và là "một loại hoạt động của người buộc tội của Nhà nước, của xã hội hoặc thậm chí của người bị hại hay người đại diện của người này trong việc chứng minh lỗi của bị cáo".
"Sự buộc tội" và "công" ghép lại với nhau thành "công tố" thì có nghĩa là sự buộc tội của Nhà nước đối với người bị truy cứu TNHS7. Khái niệm quyền công tố trong khoa học pháp lý nước ta hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau như: - Công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật8. - Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật9. - Quyền công tố là quyền cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm hành vi hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự.
Và, quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện các cáo buộc đó10. - Quyền công tố là quyền lực công, đòi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai bằng con đường Tòa án. Vì thế, quyền công tố thường gắn liền với quyền tài phán của Tòa án11. 6 Viện ngôn ngữ học (1997), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.
7 Lê Cảm (1999), “Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố’’, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ, Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, Viện khoa học VKSND tối cao, Hà Nội, tr. 8 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác kiểm sát tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 9 Lê Tài Triển (1970), Nhiệm vụ của Công tố Viện, Sài gòn, tr. 10 Phạm Hồng Hải (1999), “Bàn về Quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, Hà Nội, tr 82-94.
11 Nguyễn Như Ý (1999), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà nội. 10 - Quyền công tố là quyền được hành xử nhân danh xã hội, vì lợi ích chung cho xã hội, với mục đích là Tòa án tuyên một hình phạt đối với người phạm pháp12. Mỗi quan điểm tuy không thống nhất nhưng đều có những diễn giải hợp lý riêng của nó. Tuy nhiên, nếu xem xét đến các quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp, kinh nghiệm tổ chức, hoạt động công tố ở các hệ thống pháp luật trên thế giới, có thể rút ra một số nhận xét về các quan điểm trên như sau: - Còn đồng nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, dẫn đến tình trạng mở rộng quá mức phạm vi quyền công tố sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế, hành chính, lao động.
- Xem quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của VKS nhân danh quyền lực công. - Quá thu hẹp phạm vi quyền công tố và chỉ xem quyền công tố như là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các quan điểm hay cách diễn đạt về quyền công tố nêu trên là không phân định rõ ràng và hợp lý về bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố, của hoạt động THQCT và của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Để có cách hiểu đúng đắn về quyền công tố, cần phải căn cứ vào lịch sử ra đời của quyền công tố; những đặc trưng khác biệt giữa hoạt động công tố và tư tố cũng như sự khác nhau về cách thức tổ chức thực hiện quyền công tố.
Nói cách khác, việc đưa ra khái niệm đúng đắn về quyền công tố cần phải xuất phát từ những luận điểm mang tính nguyên tắc sau đây về đặc trưng của quyền công tố: Một là, quyền công tố là một loại quyền của Nhà nước, do vậy quyền công tố ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, được tổ chức và thực hiện tùy theo kiểu, hình thức và bản chất của Nhà nước. Hai là, quyền công tố là quyền lực công gắn liền với các quyền tài phán của Tòa án. Bởi lẽ, quyền công tố không chỉ là quyền tố giác công mà còn là việc xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai của Tòa án. Điểm gặp nhau rất cơ bản giữa các quan điểm khác nhau về trong lý luận về quyền công tố là quyền đưa vụ án ra tòa và "buộc tội" người và pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật 12 Lê Tài Triển (1970), Nhiệm vụ của Công tố Viện, Sài gòn, tr.
Tuy nhiên cần phải nhận thức rằng, không phải chỉ riêng quyền đưa vụ án ra tòa mới là quyền công tố, quyền công tố có thể được biểu hiện bằng rất nhiều quyền khác nhưng chủ thể nào được Nhà nước giao nhiệm vụ và quyền hạn đưa vụ án ra truy tố trước tòa thì chủ thể ấy chính là cơ quan THQCT. Ba là, quyền công tố là sự thể hiện quyền lực của Nhà nước, đòi hỏi phải trừng trị công khai những hành vi phạm pháp liên quan đến lợi ích chung. Để bảo đảm tính khách quan và sự công bằng thì quyền này phải độc lập với quyền tài phán của Tòa án. Như vậy, quyền công tố và quyền xét xử phải được tổ chức thực hiện một cách độc lập với nhau.
Bốn là, về lợi ích, quyền công tố có mục đích bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của xã hội, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Do vậy quyền công tố thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước trước toàn xã hội và được bảo đảm bằng sức mạnh Nhà nước. Năm là, quyền công tố là một quyền năng được thực hiện không chỉ giới hạn ở một giai đoạn tố tụng mà được thể hiện trong tất cả các giai đoạn tố tụng. Việc chia cắt hoặc lấy một vài quyền năng thuộc nội dung quyền công tố và giới hạn quyền công tố trong một vài giai đoạn tố tụng là quan điểm chưa xác đáng.
Quyền công tố cũng như các quyền năng tố tụng khác, có thể bị triệt tiêu khi xuất hiện căn cứ chấm dứt hiệu lực theo qui định của pháp luật. Như vậy, để làm rõ khái niệm quyền công tố không thể không xem xét đến các căn cứ làm triệt tiêu cũng như quyền cấm dứt việc THQCT. Sáu là, về lĩnh vực cần xác định rằng, Nhà nước chỉ sử dụng quyền công tố đối với hành vi phạm tội, nên quyền công tố được thể hiện trong phần lớn TTHS, còn trong một phần nhỏ TTHS (các tội danh phải khởi tố theo yêu cầu người bị hại) và các lĩnh vực tố tụng khác như dân sự, hành chính, lao động thì QCT cần phải nhường chỗ cho quyền tự định đoạt của các đương sự. Nói cách khác, quyền công tố chỉ bảo vệ các quan hệ xã hội khi các hành vi xâm hại các quan hệ xã hội đó được xác định là tội phạm.
Như vậy,theo chúng tôi, có thể hiểu: quyền công tố là quyền của Cơ quan được Nhà nước giao thẩm quyền nhân danh Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hoặc pháp nhân phạm tội để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội và lợi ích của công dân. Trên cơ sở khái niệm trên về quyền công tố, chúng tôi cho rằng đối tượng, nội dung, phạm vi của quyền công tố được hiểu: 12 + Về đối tượng của quyền công tố: Được hiểu là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó, ví dụ như để nhằm buộc được tội của pháp nhân phạm tội để trừng phạt; để nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại…. Như vậy, đối tượng của quyền công tố chính là tội phạm, người phạm tội và pháp nhân phạm tội. + Về nội dung của quyền công tố: Nội dung của quyền công tố là việc buộc tội của VKS đối với người và pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội.