Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" do nghiên cứu sinh Đào Lê Hòa An thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phan Thị Mai Hương và PGS.TS. Huỳnh Văn Sơn (bảo vệ năm 2018).

Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng mạng xã hội (MXH), đặc biệt là Facebook (FB), đã trở thành phương tiện kết nối và tương tác thường nhật của hàng trăm triệu người dùng trên toàn cầu. Tại Việt Nam, tại thời điểm nghiên cứu có khoảng 35 triệu người sử dụng FB mỗi tháng trên tổng dân số hơn 90 triệu người (chiếm hơn 1/3 dân số). Sinh viên là lực lượng trí thức trẻ (độ tuổi 18–24) sử dụng FB cá nhân với tần suất cao như một công cụ giao tiếp xã hội, tự biểu đạt và quảng bá bản thân. Sự thay đổi mục đích sử dụng mạng từ tìm kiếm thông tin đơn thuần sang trình diễn bản sắc cá nhân đã dẫn đến nhiều hiện tượng xã hội mới, bao gồm các trào lưu tiêu cực như "Nói là làm", phát ngôn giật gân để tìm kiếm lượt tương tác (like, share), gây nguy cơ lệch lạc trong quá trình phát triển nhân cách.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định các công trình tâm lý học trước đây về hình ảnh cái tôi (HACT) chủ yếu tập trung vào đời sống thực hoặc xem xét HACT dưới góc độ cấu thành của tự ý thức, lòng tự trọng, tự đánh giá. Các nghiên cứu về người dùng MXH phần lớn tìm hiểu hiện tượng ái kỷ, nghiện Internet hoặc mô tả hành vi giao tiếp chung. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt và toàn diện về HACT của sinh viên được bộc lộ qua các tính năng của trang FB cá nhân dưới góc độ tâm lý học.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đối chiếu cấu trúc của HACT đã được phát hiện qua lý thuyết với HACT mà sinh viên thực tế giới thiệu qua FB cá nhân; đồng thời giúp sinh viên nâng cao nhận thức về việc xây dựng HACT trên không gian mạng một cách phù hợp và tích cực.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Tổng quan các tài liệu có liên quan đến HACT của sinh viên qua FB cá nhân.
  2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về HACT của sinh viên qua FB cá nhân.
  3. Làm rõ thực trạng biểu hiện HACT của sinh viên qua FB cá nhân và các yếu tố có liên quan đến thực trạng này, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp sinh viên nâng cao nhận thức về việc xây dựng HACT qua FB cá nhân theo hướng tích cực.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện của HACT của sinh viên trên FB cá nhân và các yếu tố có liên quan.
  • Khách thể nghiên cứu: 204 sinh viên tự nguyện tham gia và 204 trang FB cá nhân tương ứng của nhóm sinh viên này.
  • Phạm vi không gian/địa bàn: 6 trường đại học và cao đẳng tại khu vực phía Nam gồm: Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, Trường Đại học Hoa Sen, Trường Đại học Văn Hiến, Trường Cao đẳng Tài chính Hải quan, Trường Cao đẳng Sonadezi.
  • Phạm vi tính năng kỹ thuật của FB: Giới hạn phân tích trên các tính năng hồ sơ cá nhân (profile), ảnh đại diện (avatar), ảnh bìa (cover page), dòng trạng thái (status) và hình ảnh đăng tải; không khảo sát nút like, các biểu tượng cảm xúc rời rạc hoặc các trang chia sẻ bên ngoài.
  • Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu: Thông tin phân tích từ FB được giới hạn trong khoảng 1 tháng tính từ thời điểm sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu trở về trước (đối với dòng trạng thái và hình ảnh đăng tải) và thời điểm hiện thời tại lúc phân tích (đối với hồ sơ cá nhân, ảnh đại diện và ảnh bìa).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến cái tôi, HACT và hành vi sử dụng MXH của sinh viên.

Các hướng nghiên cứu quốc tế:

  • Các quan điểm lý thuyết về bản chất cái tôi:
    • Thuyết phân tâm học của Sigmund Freud xác định cái tôi (ego) vận hành theo nguyên tắc thực tế để điều hành nhân cách; Carl Jung mở rộng cái tôi gắn với tính xã hội, nguyên mẫu và sự thống nhất tổng thể.
    • Thuyết hiện sinh của Carl Rogers nhấn mạnh nhận thức chủ quan, sự tự thuật, hiện thực hóa cái tôi và sự khác biệt văn hóa giữa phương Đông (gắn kết tập thể) và phương Tây (độc lập, cá nhân).
    • Thuyết tương tác của Eric Berne (1974) phân chia ba trạng thái cái tôi: cái tôi cha mẹ, cái tôi người lớn và cái tôi trẻ em.
  • Các mô hình cấu trúc cái tôi:
    • Shibutani (1961) nêu 5 khía cạnh (tính đồng nhất, quá trình tự ý thức, tính ổn định, tự đánh giá, ý thức xã hội).
    • Lewis (1990) phân biệt "cái tôi tồn tại" (The Existential Self) và "cái tôi phạm trù" (The Categorical Self).
    • Roy Baumeister (1998) đề cập ý thức phản hồi, cái tôi liên cá nhân, điều hành hoạt động và khái niệm cái tôi trình diễn (self-presentation).
  • Nghiên cứu về bản chất, chức năng và cấu trúc HACT:
    • Raimy (1948), John Turner (1968) phân định bản sắc cá nhân và bản sắc xã hội.
    • Morris Rosenberg (1979) mô tả HACT cố định qua tập hợp vai trò và bản sắc xã hội.
    • Wylie (1974), Wayne (2012) định nghĩa HACT là tập hợp các niềm tin về bản thân.
    • E. Tory Higgins (1987) phân tích mâu thuẫn giữa cái tôi thực tế (actual self), cái tôi lý tưởng (ideal self) và cái tôi bắt buộc (ought self), tạo ra các trạng thái cảm xúc thất vọng, buồn bã hoặc tội lỗi.
    • Lisa (2000) chỉ ra 7 yếu tố tác động đến HACT đánh giá ở giới trẻ (gia đình, thể thao, học thuật, hoạt động ngoại khóa, bạn bè, việc làm thêm, hình ảnh bản thân); Beebe và cs. (2002) nêu 5 thành tố ảnh hưởng đến sự phát triển HACT.
  • Nghiên cứu HACT của sinh viên và người dùng FB:
    • Xiaofeng Zhang (2010) phát hiện khác biệt giới tính: nam sinh viên có HACT thể chất và mức độ thỏa mãn bản thân cao hơn, trong khi nữ sinh viên bộc lộ HACT tính cách rõ nét hơn.
    • Nghiên cứu của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA, 2012) chỉ ra người dùng FB có xu hướng tạo "mặt nạ" ảo và thể hiện các mặt tích cực thay vì nhân dạng quá lý tưởng.
    • Gil-Or và cs. (2015) nghiên cứu hiện tượng sai lệch cái tôi trên FB.
    • Wong (2012) nhận thấy sinh viên có sự thống nhất giữa hành vi thực và thể hiện trên FB.
    • Garner và O'Sullivan (2010) khảo sát sinh viên y khoa về tính chuyên nghiệp và hình ảnh bản thân trực tuyến.
    • Alessandro Acquisti và Ralph Gross (2006, Đại học Carnegie Mellon) ghi nhận thông tin được công khai nhiều nhất trên FB là ngày sinh nhật (84%) và mục tiêu cá nhân (75%), ít công khai nhất là số điện thoại nhà (89%) và tên người yêu (71%).
    • Valkenburg, Schouten, Peter (2005) nghiên cứu 50% thanh thiếu niên Hà Lan sử dụng tin nhắn để tự khám phá và bù đắp hạn chế xã hội; Valkenburg và Peter (2007), Valkenburg và Soetes (2011) chỉ ra sự chuyển dịch sang trình diễn bản thân.
    • Aslam HM và cs. (2013) nghiên cứu hành vi nghiện FB ở sinh viên.
    • Danah Boyd (2007) phân tích khái niệm "không gian cộng đồng trên hệ thống" và 3 đặc tính của không gian ảo hỗ trợ xây dựng bản sắc.

Các nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Nghiên cứu về cái tôi và tự đánh giá: Đỗ Long và Phan Thị Mai Hương (2002) trong công trình "Tính cộng đồng - tính cá nhân và 'cái tôi' của con người Việt Nam hiện nay"; Lương Cần Liêm (2014); Đỗ Ngọc Khanh (2004) nghiên cứu tự đánh giá của học sinh THCS ở Hà Nội; Văn Thị Kim Cúc (2003) nghiên cứu sự đánh giá bản thân ở lứa tuổi 10–15.
  • Nghiên cứu về MXH và Facebook: Nguyễn Minh Hòa (2010), Nguyễn Thị Hậu (2010), Nguyễn Hữu Thọ (2011); khảo sát của Hoàng Anh (2004/2014) về mục đích tham gia nhóm trên FB (giải trí 71%, mở rộng quan hệ 34,6%, 34% bạn bè quen qua mạng); nghiên cứu của Trần Hữu Luyến và cs. (2015) chỉ ra 99% sinh viên dùng MXH (FB chiếm 86,6%, Youtube 60%, Google+ 56,2%, ZingMe 39,5%), hoạt động phổ biến là nhắn tin/chat (53,7%), giải trí (41,4%), cập nhật thông tin (41,4%).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các tài liệu trong và ngoài nước đã làm rõ nhiều khía cạnh về tâm lý người dùng mạng, vấn đề HACT của sinh viên thể hiện qua các tính năng của trang FB cá nhân vẫn chưa được nghiên cứu thực nghiệm một cách hệ thống tại Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xác lập khung khái niệm, xây dựng bộ mã định lượng hóa HACT trên không gian ảo, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa cấu trúc lý thuyết và cấu trúc thực tế, đồng thời kiểm tra mối liên hệ giữa HACT với các biến số nhân khẩu học, tâm lý và hành vi xã hội của sinh viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án dựa trên các khái niệm nền tảng:

  • Khái niệm Hình ảnh (image): Dưới góc độ tâm lý học (dẫn theo Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng, 2012), hình ảnh là bức tranh chủ quan về thế giới khách quan, mang tính sinh động, sáng tạo, tích cực, chủ thể và trọn vẹn.
  • Khái niệm Cái tôi (self): Cốt lõi của nhân cách, là tập hợp những ý niệm của cá nhân về chính mình (nhận thức được tách biệt với môi trường và đối chiếu với xã hội xung quanh, theo William James, C.H. Cooley, G.H. Mead, Carl Rogers, Đỗ Long, Lê Văn Hảo).
  • Khái niệm HACT và "Cái tôi trong gương" (looking-glass self): Theo C.H. Cooley (1902, 1998), cái tôi hình thành qua 3 thành phần: tưởng tượng bản thân xuất hiện trước người khác, tưởng tượng sự đánh giá của người khác và định hình cảm xúc/đánh giá về chính mình (hình thức, tính cách, hệ quả đánh giá).
  • Cấu trúc HACT theo các mô hình lý thuyết kinh điển:
    • Manford Kuhn (1954, 1960): Trắc nghiệm 20 mệnh đề phân loại 4 nhóm mô tả (thực thể, vai trò xã hội, tính cách, đặc điểm hình tượng).
    • L'Ecuyer (1978): 5 khía cạnh (cái tôi vật chất, cái tôi cá nhân, cái tôi thích nghi, cái tôi xã hội, cái tôi - không - tôi).
    • Shavelson, Hubner & Stanton (1976) và Marsh (1990): Cấu trúc phân tầng gồm HACT học thuật (Toán, Ngôn ngữ) và HACT phi học thuật (xã hội, cảm xúc, thể chất).
    • Sordes-Ader và cs. (Đại học Toulouse, Pháp, 1998): Mô hình 6 khía cạnh gồm: Cái tôi gia đình, Cái tôi cảm xúc, Cái tôi xã hội, Cái tôi học đường, Cái tôi thể chất, Cái tôi tương lai.
  • Khái niệm HACT của sinh viên qua FB cá nhân do tác giả xác lập: Là bức tranh chủ quan phản ánh tập hợp những ý niệm về chính bản thân những người đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng, được giới thiệu qua trang FB cá nhân của riêng họ.

Nguyên tắc phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án tuân thủ 3 nguyên tắc phương pháp luận tâm lý học:

  1. Nguyên tắc hoạt động - nhân cách.
  2. Nguyên tắc hệ thống.
  3. Nguyên tắc phát triển.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm 3 nhóm:

  • Nhóm 1: Phương pháp nghiên cứu lý luận (nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu).
  • Nhóm 2: Phương pháp thu thập thông tin thực tiễn:
    • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ (phân tích trang FB cá nhân).
    • Phương pháp quan sát.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu.
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study).
    • Phương pháp trắc nghiệm tâm lý.
  • Nhóm 3: Phương pháp xử lý và phân tích thông tin:
    • Phương pháp phân tích nội dung (Content analysis) dựa trên bộ mã HACT được xây dựng chuẩn hóa.
    • Phương pháp thống kê toán học (xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm thống kê).

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Tiêu chí Mô tả chi tiết từ văn bản luận án
Khách thể khảo sát 204 sinh viên thuộc hệ đại học và cao đẳng (tự nguyện tham gia)
Nguồn dữ liệu số 204 trang Facebook cá nhân tương ứng của các sinh viên khảo sát
Địa bàn khảo sát 6 cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng tại TP.HCM và vùng phụ cận (ĐH Sư phạm TP.HCM, ĐH Ngân Hàng TP.HCM, ĐH Hoa Sen, ĐH Văn Hiến, CĐ Tài Chính Hải Quan, CĐ Sonadezi)
Cột mốc thời gian dữ liệu FB - 01 tháng tính ngược từ ngày đồng ý tham gia (đối với hình ảnh đăng tải và dòng trạng thái status)
- Thời điểm hiện thời tại lúc phân tích (đối với profile, avatar, cover page)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân

Chương này trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề từ triết học thế kỷ XVII (Descartes, Locke, Hume) đến tâm lý học hiện đại. Tác giả phân tích các dòng lý thuyết chính về cái tôi (phân tâm học, hiện sinh, tương tác, hoạt động), các công trình thực nghiệm về cấu trúc HACT (Kuhn, L'Ecuyer, Shavelson, Sordes-Ader) và các nghiên cứu về hành vi tự thể hiện trên mạng xã hội (Boyd, Valkenburg, Acquisti, Gil-Or, Trần Hữu Luyến). Tác giả chỉ ra rằng việc thể hiện bản thân trên MXH phản ánh đời sống tâm lý thực nhưng bị chi phối bởi tính ảo, tính ẩn danh và tính chọn lọc. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải thực hiện một nghiên cứu hệ thống về HACT của sinh viên Việt Nam trên nền tảng FB.

Chương 2: Cơ sở lý luận về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm công cụ. Tác giả làm rõ nội hàm của "hình ảnh", "cái tôi", "hình ảnh cái tôi", "Facebook cá nhân" và "sinh viên". Phân tích các tính năng kỹ thuật của FB phục vụ việc bộc lộ HACT bao gồm: Hồ sơ cá nhân (Profile), Kết bạn (Add Friends), Hủy kết bạn (UnFriends), Dòng trạng thái (Status), Hình ảnh (Photos), Đánh dấu địa điểm (Check-in), Bình luận & Thích (Comment & Like), Biểu tượng cảm xúc (Reactions), Gắn thẻ (Tag), "Bạn đang cảm thấy thế nào?", Trạng thái mối quan hệ (Relationship), và Thiết lập chế độ xem (Privacy).

Tác giả phân tích đặc điểm HACT trên FB: mang tính chủ quan, phản ánh hình ảnh muốn trình ra trước cộng đồng mạng ("bộ mặt dương"), có tính thời sự hoặc phi thời sự, có tính chọn lọc và có thể xuất hiện sự sai lệch so với đời thực. Trên cơ sở đối chiếu các lý thuyết (đặc biệt là mô hình 6 mặt của Sordes-Ader và mô hình của Shavelson), tác giả quy ước HACT học thuật tương đương với HACT năng lực, và xác lập các khía cạnh biểu hiện ban đầu của HACT để chuẩn bị cho nghiên cứu thực nghiệm.

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế bộ công cụ và phương thức triển khai thực nghiệm. Tác giả xây dựng bộ mã định lượng (Coding scheme) để phân tích nội dung các bài đăng, hình ảnh và hồ sơ FB cá nhân của 204 sinh viên. Chương này mô tả các bước tiến hành thu thập dữ liệu tại 6 trường ĐH - CĐ, quy trình phỏng vấn sâu, quan sát, áp dụng bảng hỏi và trắc nghiệm tâm lý, cùng các kỹ thuật thống kê toán học được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa các khía cạnh HACT với các biến số độc lập (giới tính, địa bàn xuất thân, thứ tự sinh, hoạt động xã hội, thời gian sử dụng FB, thiết lập quyền riêng tư, mức độ tự đánh giá, cái tôi sai lệch).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân

Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm, trình bày toàn bộ số liệu và phân tích kết quả nghiên cứu:

  • Thực trạng biểu hiện HACT của sinh viên qua FB: Phân tích tỷ lệ và mức độ bộc lộ HACT qua các tính năng kỹ thuật của FB. Tác giả thống kê các khía cạnh:
    • HACT nhận diện bề ngoài (ngoại hình, thể chất, trang phục, vật chất).
    • HACT năng lực (học tập, kỹ năng, kiến thức).
    • HACT cảm xúc (trạng thái tâm lý trên dòng trạng thái và hình ảnh).
    • HACT xã hội (quan điểm sống, chính trị - xã hội, tôn giáo, các mối quan hệ bạn bè, gia đình). Phân tích mạng lưới kết bạn, mức độ chủ động kết bạn, chấp nhận kết bạn, lý do từ chối và lý do hủy kết bạn.
    • HACT tương lai (mục tiêu, ước mơ trên hồ sơ và dòng trạng thái).
    • HACT tính cách.
    • HACT hưởng thụ và trải nghiệm cuộc sống (du lịch, ẩm thực, giải trí, khám phá).
  • Phát hiện cấu trúc HACT thực tế: Kết quả chỉ ra HACT của sinh viên trên FB gồm 7 khía cạnh phổ biến, nhiều hơn cấu trúc lý thuyết 6 khía cạnh của Sordes-Ader (bổ sung khía cạnh hưởng thụ và trải nghiệm cuộc sống).
  • Mối quan hệ giữa HACT và các yếu tố liên quan: Phân tích sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa biểu hiện HACT với:
    • Giới tính (nam và nữ).
    • Nơi xuất thân (các thành phố khác nhau).
    • Thứ tự sinh trong gia đình.
    • Mức độ tham gia và chức vụ trong hoạt động xã hội/đoàn thể.
    • Thời gian truy cập FB hàng ngày.
    • Sự thiết lập chế độ bạn bè / quyền riêng tư.
    • Mức độ tự đánh giá và mức độ sai lệch cái tôi trên mạng so với đời thực.
  • Nghiên cứu trường hợp điển hình: Luận án phân tích sâu 3 trường hợp sinh viên (ký hiệu P.H, H.L, G.L) để làm rõ sự bộc lộ đa chiều của các khía cạnh HACT (thể chất, vật chất, nhận diện bề ngoài, cảm xúc, xã hội, tương lai, hưởng thụ - trải nghiệm, tính cách) qua ảnh đăng tải, mục giới thiệu và dòng trạng thái.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hình thành khung lý luận hoàn chỉnh để nghiên cứu HACT trên không gian mạng xã hội (thế giới ảo) thay vì chỉ giới hạn trong đời sống thực.
  • Bổ sung khía cạnh mới vào cấu trúc HACT của sinh viên: Kết quả thực tiễn xác định HACT của sinh viên bộc lộ qua FB gồm 7 khía cạnh (nhận diện bên ngoài, năng lực, tính cách, xã hội, cảm xúc, tương lai, và hưởng thụ - trải nghiệm), làm phong phú hơn cấu trúc lý thuyết 6 khía cạnh ban đầu.
  • Xác định cơ chế biểu hiện và khả năng tác động của các yếu tố tâm lý - xã hội, đặc điểm cá nhân (nhân khẩu học, hành vi dùng mạng, tự đánh giá) đến xu hướng bộc lộ HACT trên mạng xã hội.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Làm sáng tỏ tính đa dạng và tính chọn lọc trong cách thức sinh viên trình diễn bản thân trên FB (ưu tiên thể hiện "bộ mặt dương", quảng bá điểm mạnh và chia sẻ trải nghiệm sống).
  • Chỉ ra những ưu điểm (mở rộng giao lưu, khẳng định bản thân) và nguy cơ/hạn chế (sai lệch cái tôi, phụ thuộc vào tương tác ảo, nguy cơ ái kỷ hoặc bất an tâm lý khi đối diện với phản hồi tiêu cực).
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác giáo dục nhận thức cho sinh viên về việc xây dựng thương hiệu cá nhân và hình ảnh bản thân trực tuyến lành mạnh.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với sinh viên: Nâng cao nhận thức về tính hai mặt của MXH; chủ động kiểm soát thông tin cá nhân; hài hòa giữa cái tôi thực tế và cái tôi trên mạng; tránh các trào lưu tiêu cực nhằm tìm kiếm sự chú ý ảo.
  • Đối với các cơ sở đào tạo và tổ chức Đoàn - Hội: Tăng cường các chương trình tham vấn tâm lý học đường, định hướng kỹ năng truyền thông và văn hóa ứng xử trên mạng xã hội cho sinh viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Mẫu nghiên cứu gồm 204 sinh viên tham gia theo hình thức tự nguyện tại 6 trường ĐH - CĐ thuộc khu vực phía Nam, chưa bao quát toàn bộ sinh viên trên phạm vi cả nước.
  • Phạm vi kỹ thuật mới chỉ tập trung vào 5 tính năng chính (profile, avatar, cover, status, hình ảnh), chưa khảo sát các hành vi tương tác khác như nút like, thả biểu tượng cảm xúc, chia sẻ bài viết từ fanpage/nhóm hoặc tin nhắn riêng tư.
  • Khung thời gian dữ liệu FB giới hạn trong 1 tháng trước thời điểm khảo sát.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát ngẫu nhiên trên nhiều vùng miền và các nhóm ngành đào tạo khác nhau.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tâm lý của hiện tượng sai lệch cái tôi trên mạng và tác động dài hạn của việc trình diễn bản thân trên MXH đối với sự phát triển nhân cách của người trưởng thành trẻ tuổi.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Tâm lý học (đặc biệt là Tâm lý học xã hội, Tâm lý học nhân cách, Tâm lý học lứa tuổi) và Xã hội học truyền thông: Đáng tham khảo ở khung lý luận về cái tôi ảo và phương pháp phân tích nội dung (Content analysis) áp dụng cho dữ liệu mạng xã hội.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, phòng công tác sinh viên, tổ chức Đoàn Thanh niên - Hội Sinh viên: Đáng tham khảo ở các số liệu thực trạng sử dụng FB, xu hướng kết bạn, lý do hủy kết bạn và các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý giới trẻ để xây dựng giải pháp quản lý, hỗ trợ sinh viên.
  • Chuyên viên tư vấn tâm lý học đường: Đáng tham khảo phần phân tích các trường hợp nghiên cứu sâu (case study P.H, H.L, G.L) và mối liên hệ giữa cái tôi sai lệch với sức khỏe tâm thần của sinh viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Khung cấu trúc hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook trong kết quả nghiên cứu của luận án gồm những khía cạnh nào? Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án xác định HACT của sinh viên qua FB gồm 7 khía cạnh: (1) Cái tôi nhận diện bên ngoài, (2) Cái tôi năng lực, (3) Cái tôi tính cách, (4) Cái tôi xã hội, (5) Cái tôi cảm xúc, (6) Cái tôi tương lai, và (7) Cái tôi hưởng thụ - trải nghiệm cuộc sống. Khía cạnh thứ 7 là điểm mới bổ sung so với mô hình lý thuyết 6 khía cạnh của Sordes-Ader và cs. (1998).

2. Mẫu khách thể và địa bàn khảo sát thực tế của luận án được tổ chức ra sao? Nghiên cứu được thực hiện trên 204 sinh viên tự nguyện tham gia và phân tích trực tiếp 204 trang FB cá nhân của họ tại 6 trường đại học, cao đẳng gồm: ĐH Sư phạm TP.HCM, ĐH Ngân Hàng TP.HCM, ĐH Hoa Sen, ĐH Văn Hiến, CĐ Tài Chính Hải Quan và CĐ Sonadezi.

3. Luận án giới hạn thu thập dữ liệu trên những tính năng nào của Facebook và trong khoảng thời gian nào? Luận án giới hạn khảo sát trên: Hồ sơ cá nhân (profile), ảnh đại diện (avatar), trang bìa (cover page), dòng trạng thái (status) và hình ảnh đăng tải. Thời gian thu thập dữ liệu bài đăng và hình ảnh là trong vòng 1 tháng tính ngược từ thời điểm sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu; hồ sơ, ảnh đại diện và ảnh bìa được khảo sát tại thời điểm phân tích.

4. Khái niệm "HACT của sinh viên qua FB cá nhân" được tác giả định nghĩa như thế nào? Tác giả định nghĩa: HACT của sinh viên qua FB cá nhân là bức tranh chủ quan phản ánh tập hợp những ý niệm về chính bản thân những người đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng, được giới thiệu qua trang FB cá nhân của riêng họ.

5. Luận án sử dụng những trường hợp điển hình (case study) nào để minh họa cho kết quả nghiên cứu sâu? Luận án thực hiện phân tích trường hợp sâu trên 3 sinh viên được mã hóa danh tính là P.H, H.L và G.L, khảo sát chi tiết biểu hiện của các khía cạnh thể chất, vật chất, nhận diện bề ngoài, cảm xúc, xã hội, tương lai, tính cách và trải nghiệm qua hình ảnh và dòng trạng thái trên trang cá nhân của họ.

Kết luận

Luận án "Hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook cá nhân" của Đào Lê Hòa An là công trình chuyên khảo tâm lý học thực nghiệm, giải quyết vấn đề tự biểu đạt nhân cách của sinh viên trên không gian mạng xã hội. Thông qua việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu hồ sơ mạng, phân tích nội dung, trắc nghiệm và thống kê trên 204 tài khoản FB sinh viên, tác giả đã phát hiện cấu trúc HACT thực tế gồm 7 khía cạnh và làm rõ mối liên hệ giữa việc bộc lộ hình ảnh bản thân với các yếu tố cá nhân, xã hội. Công trình đóng góp hệ thống tư liệu thực chứng và cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu tâm lý học truyền thông số và định hướng giáo dục nhân cách cho giới trẻ Việt Nam.