CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÌNH ẢNH CÁI TÔI CỦA SINH VIÊN QUA FACEBOOK CÁ NHÂN 1. Các nghiên cứu về hình ảnh cái tôi của sinh viên qua Facebook ở nước ngoài 1. Một số nghiên cứu về cái tôi Cái tôi là một khái niệm mang đặc điểm cá nhân, thể hiện những đánh giá về bản thân dưới ảnh hưởng của bối cảnh xã hội. Đã từ lâu cái tôi (self) trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, tâm lý học… Tuy nhiên, trên mỗi lĩnh vực người ta lại xem xét các khía cạnh khác nhau của nó.
Trong Triết học, khái niệm cái tôi được nghiên cứu lần đầu tiên bởi các nhà triết học như Decartes, Locke, Hume vào thế kỷ XVII. Ở giai đoạn lịch sử này, cái tôi được nghiên cứu tách rời bối cảnh xã hội mà con người sống trong đó. Cách nhìn này không được tâm lý học xã hội hiện đại chấp nhận vì sự nhận thức của cá nhân không thể không bị ảnh hưởng bởi xã hội, bởi những người khác [9]. Từ góc độ Tâm lý học, có thể chỉ ra một số hướng nghiên cứu về cái tôi trên thế giới.
Hướng nghiên cứu thứ nhất: Các quan điểm lý thuyết về bản chất của cái tôi - Thuyết phân tâm học Nhà tâm lí học S. Freud - cha đẻ của thuyết phân tâm học, khi bàn về nhân cách đã cho rằng cái tôi là một trong 3 phần của cấu trúc nhân cách. Trong cấu trúc này cái Tôi bao gồm ý thức của con người về các quy luật của cuộc sống, các chuẩn mực của xã hội… Chức năng của cái tôi ý thức là kiềm hãm những nhu cầu dưới các hình thức có thể được xã hội chấp nhận. Cái tôi luôn vận hành theo nguyên tắc thực tế.
Cái tôi luôn được coi là có logic, có lý trí, chịu đựng được sự ức chế và điều hành nhân cách [52]. Người thứ hai đại diện cho trường phái phân tâm học là C. Jung, khắc phục quan điểm bản năng của S. Freud về cái tôi.
Jung đã đề cập nhiều đến tính xã hội trong cái tôi của con người. Ông đã bắt đầu đề cập cái tôi như một cái gì giống tinh 7 thần hoặc toàn bộ nhân cách. Và ông đã tìm kiếm những nền tảng mang tính chủng tộc về nhân cách và đã phát triển các nguyên mẫu đó. Theo ông, khái niệm chính trong tâm lý học phải là cái tôi với sự thống nhất mang tính tổng thể của nó [7].
- Thuyết hiện sinh Nếu như cách tiếp cận của phân tâm học nhấn mạnh đến xung năng, bản ngã và cái vô thức thì Carl Rogers - một nhà tâm lý học đại diện cho trường phái hiện sinh, lại tiếp cận theo hướng ngược lại. Ông nhấn mạnh đến nhận thức, cảm nhận, tự thuật mang tính chủ quan, hiện thực hóa cái tôi và tiến trình của sự thay đổi. Trong lý thuyết về nhân cách, C. Rogers nhấn mạnh khái niệm cái tôi và coi đó là khái niệm chủ đạo trong nghiên cứu nhân cách.
Cấu trúc cơ bản của cái tôi có thể dựa trên các nền văn hóa khác nhau. Ví dụ cái tôi của người phương Đông được nhìn nhận như một sự gắn kết với người khác, tập thể. Cá nhân chỉ được thể hiện cái tôi khi họ được sống trong tập thể. Ngược lại ở phương Tây, cái tôi là sự độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, bị tách biệt khỏi tập thể.
Vì vậy khi nghiên cứu cái tôi rất cần phải chú ý đến đặc điểm văn hóa của từng vùng, từng dân tộc [dẫn theo 76]. - Thuyết tương tác Từ lý thuyết tương tác, Eric Berne (1974) phân biệt 3 trạng thái cái tôi của nhân cách. Đó là cái tôi cha mẹ, cái tôi người lớn và cái tôi trẻ em. Điều đặc biệt là có thể di chuyển từ trạng thái cái tôi này sang trạng thái cái tôi khác [51].
Theo ông, cái tôi cha mẹ bao gồm những cảm xúc và hành vi học được từ cha mẹ hay những người chăm sóc trước đó. Trạng thái này gồm cha mẹ nuôi dưỡng hoặc cha mẹ phê phán. Cái tôi cha mẹ nuôi dưỡng có tình yêu tự nhiên, trong khi cái tôi cha mẹ phê phán lại gồm những suy nghĩ và hành vi mang tính định kiến. Cái tôi người lớn hay còn gọi là trung tâm xử lý thông tin là trạng thái mà cái tôi đánh giá thông tin dựa trên những sự kiện, chứ không phải là những cảm xúc hay những niềm tin đã có từ trước.
Cái tôi trẻ em là trạng thái giữ tất cả những kỷ niệm, cảm xúc, và cảm nhận. Con người mang trạng thái này theo thời gian và có thể hồi tưởng bất cứ lúc nào. Các trạng thái này của cái tôi bổ sung cho nhau để bảo vệ cái tôi nhưng cũng dễ có xung đột với nhau. 8 Như vậy, từ những phân tích về cái tôi có thể nhận thấy, các tác giả đứng từ góc độ khác nhau tập trung vào nội dung khác nhau của cái tôi.
Trong các phát hiện đó, các tác giả đều mong muốn luận giải bản chất của cái tôi, đưa ra những đặc điểm của cái tôi và những yếu tố liên quan đến cái tôi. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có một quan niệm riêng về nội dung cốt lõi của cái tôi. Mặc dù vậy, tất cả các tác giả đều cho rằng, cái tôi là hạt nhân của nhân cách, thể hiện bản chất của con người. Hướng nghiên cứu thứ hai: xem xét cấu trúc của cái tôi.
Theo hướng này, cái tôi được coi là một cấu trúc gồm nhiều thành phần, nhiều mặt. Nhiều tác giả khác nhau đưa ra những cấu trúc khác nhau về cái tôi. Theo quan điểm của Shibutani (1961), khi cá nhân tham dự vào các hoạt động xã hội thì cái tôi bao gồm năm khía cạnh: (1) Tính đồng nhất, (2) Quá trình tự ý thức, (3) Tính ổn định, (4) Tự đánh giá bản thân, (5) Ý thức xã hội. Theo ông, tính đồng nhất là một nhân tố trong cấu trúc của cái tôi.
Nó thể hiện bản thân qua cách ứng xử. Tính đồng nhất ở mỗi cá nhân là khác nhau. Điều này có thể nhận thấy được một cách chính xác hành vi đó của ai và người đó xử sự như thế nào. Như vậy, quan điểm của Shibutani dường như thiên về các đặc điểm của cái tôi hơn là nêu lên thành phần cấu trúc của cái tôi [86].
Nghiên cứu về sự phát triển cái tôi Lewis (1990) chỉ ra 2 khía cạnh của cái tôi. Đó là cái tôi tồn tại (The Existential Self) và cái tôi phạm trù (The Categorical Self). Cái tôi tồn tại là phần cơ sở nhất của khái niệm cái tôi; là cảm giác về bản ngã riêng biệt và khác biệt với người khác, và nhận thức về sự thống nhất của cái tôi. Theo Lewis, nhận thức về sự tồn tại của bản thân bắt đầu từ khoảng 2 - 3 tháng tuổi và lớn dần lên theo mối quan hệ của nó với thế giới.
Theo sự phát triển, đứa trẻ dần nhận ra nó là một phần riêng biệt, là một đối tượng của thế giới với những thuộc tính khác nhau. Cái tôi phạm trù bao gồm trong đó những thuộc tính như giới tính, chiều cao, cân nặng, hoặc kỹ năng. Đầu tiên các phạm trù về bản thân khá cụ thể, bề ngoài (giới tính, chiều cao, màu tóc.), sau đó, các mô tả cái tôi bao gồm tính cách 9 bên trong, trong sự đối chiếu với các đánh giá của người khác và cách chúng nhìn nhận chính bản thân mình [66]. Vào năm 1998, tác giả Baumeister đề cập ba khía cạnh lớn của cái tôi: ý thức mang tính phản hồi (reflexive consciousness) (năng lực để có ý thức của chính mình), cái tôi liên cá nhân (the interpersonal self), điều hành hoạt động (executive functioning) (kiểm soát và bắt đầu hành vi) [37].
Một trong những cố gắng của tác giả là đã chỉ ra các khái niệm có liên quan trực tiếp đến cái tôi. Đó là: tự nhận thức, khái niệm cái tôi, cái tôi trình diễn, tự tin, tự điều chỉnh, hiểu biết về cái tôi [38]. Trong số các mặt của cái tôi ở đây, có một khái niệm gần như trùng khít với HACT từ góc độ một cá nhân giới thiệu bản thân mình cho người khác, đó là cái tôi trình diễn (self - presentation). Đây là một vài ví dụ về cái tôi từ góc độ các thành phần, các khía cạnh của cái tôi và kết quả cho thấy nó khá đa dạng và khác biệt từ quan điểm nghiên cứu của các tác giả.
Hướng nghiên cứu thứ ba: xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến cái tôi. Tác giả Viktor Gecas (1982) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự nhận thức khác nhau của mỗi cá nhân: tính cách, khả năng hoạt động, thích nghi xã hội, tiếp thu ý kiến người khác… Với mỗi cá nhân sự hiện diện của cái tôi là khá ổn định. Hầu như nó không hề thay đổi khi con người thay đổi vai trò xã hội [94]. Cũng bàn đến cái tôi, Sedikides, C.
Spencer (2007) quan tâm đến các yếu tố có liên quan đến cái tôi. Một số nghiên cứu về hình ảnh cái tôi HACT của một người là một tập hợp các niềm tin về bản thân bao gồm các yếu tố như thành tích học tập, vai trò giới tính, tình dục, và bản sắc dân tộc… Nói chung, HACT thể hiện những câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?”. HACT được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: tâm lý học, xã hội học từ ngày xưa. Ý tưởng về HACT được đề cập trong triết học Vệ đà như Ahamkara; một thuật ngữ có nguồn gốc khoảng 3.000 năm trước đây.
10 Trong lĩnh vực tâm lý học cũng có nhiều xu hướng khác nhau trong việc nghiên cứu HACT. Hướng nghiên cứu thứ nhất nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của HACT Năm 1948, Raimy giới thiệu các biện pháp tự nhận thức về HACT trong tư vấn phỏng vấn và cho rằng tâm lý cơ bản là một quá trình thay đổi cách mà các cá nhân nhìn thấy chính mình [dẫn theo 73]. Năm 1968, John Turner đưa ra HACT bao gồm ít nhất hai “cấp”: một bản sắc cá nhân và một xã hội. Nói cách khác, HACT của một người theo nhận thức của chính họ dựa trên sự tự nhận thức và cách người khác cảm nhận được chúng.
HACT có thể thay thế nhanh chóng giữa các bản sắc cá nhân và xã hội. Trẻ em bắt đầu tích hợp bản sắc xã hội vào sự nhận thức về HACT của chúng ở trường tiểu học bằng cách đánh giá vị trí của trẻ giữa các bạn cùng lớp [92].