CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN VỀ “TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP” (CSR) 1. Định nghĩa "trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" (CSR) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (tên tiếng Anh là Corporate Social Responsibility - CSR) được chính thức định hình lần đầu vào năm 1953 khi H.R Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen). Cuốn sách ra đời với mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại mà các doanh nghiệp ra cho xã hội.
Từ đó cho đến nay, các định nghĩa về CSR đã được nhiều nhà học giả trên thế giới nghiên cứu và phát biểu theo những cách khác nhau. Một cách tổng quan, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được cho là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định (Carroll, 1999). Dưới góc độ của doanh nghiệp, Davis (1973) cho rằng: “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế và công nghệ”. Một cách cụ thể, Eells và Walton (1974) giải thích rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự quan tâm đến các nhu cầu và mục tiêu của xã hội vượt trên lợi ích kinh tế truyền thống và một sự quan tâm lớn hơn đến vai trò của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ và cải thiện trật tự xã hội”.
Ngoài ra, Hội đồng Doanh nghiệp vì Sự Phát triển bền vững (2000) phát biểu khái niệm về CSR như sau: “Trách nhiệm xã hội là sự cam kết của doanh nghiệp nhằm đóng góp cho phát triển kinh tế bền vững thông qua những hoạt động nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình của họ, cho cộng đồng và cho toàn xã hội theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội”. Tương tự, Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng thế giới (2003) nêu lên định nghĩa: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững thông qua các hoạt động 7 nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”. Theo Beurden và Gössling (2008), hoạt động CSR bao gồm rất nhiều yếu tố từ nhận thức đến các hành động thực tiễn, từ đóng góp từ thiện cho đến các vấn đề xã hội, đặc biệt là bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao phúc lợi nhân viên, phát triển năng lực và phát triển cộng đồng. Như vậy có thể thấy rằng CSR là một quá trình mà các công ty tích hợp các vấn đề xã hội, môi trường và đạo đức vào các hoạt động kinh doanh và chiến lược của họ trong sự tương tác chặt chẽ với các bên liên quan, vượt trên những yêu cầu pháp luật và thỏa ước tập thể (Liên minh Châu Âu, 2011).
Tóm lại, dù cách diễn đạt ngôn từ của từng khái niệm khác nhau, song nội hàm phản ánh của CSR về cơ bản đều có điểm chung là, ngoài những lợi ích phát triển riêng của từng doanh nghiệp phù hợp với pháp luật hiện hành thì các doanh nghiệp phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội, đặc biệt các hoạt động này phải được thực hiện trên tinh thần tự nguyện. Hiện nay, sự cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi từ khách hàng ngày càng cao; đồng nghĩa với việc xã hội có cái nhìn ngày càng khắt khe hơn đối với các tổ chức, doanh nghiệp về trách nhiệm đối với lợi ích của cộng đồng. Các DN muốn phát triển bền vững không những phải tuân thủ những chuẩn mực về bảo đảm hoạt động sản xuất - kinh doanh phải có lợi nhuận, mà còn cả những chuẩn mực về pháp lý, bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên và góp phần phát triển cộng đồng và xã hội, bao hàm cả các hoạt động thực hiện an sinh xã hội như nhân đạo, từ thiện. Mô hình CSR 1.
Đặc điểm mô hình CSR Hiện nay, trên thế giới có nhiều mô hình CSR khác nhau được áp dụng vào những định hướng khác nhau của các tổ chức, doanh nghiệp. Tùy thuộc vào tầm nhìn, sứ mệnh cũng như chiến lược phát triển dài hạn của tổ chức mà lựa chọn mô hình CSR phù hợp. Dưới đây là một số mô hình CSR phổ biến trên thế giới như: 8 Mô hình Friedman (1962-1973): Theo mô hình này, các doanh nghiệp không phải thực hiện trách nhiệm xã hội với bất kỳ ai khác ngoài các cổ đông của công ty. Bởi vì theo quan điểm của Friedman, việc tiêu tiền của các cổ đông vì lợi ích xã hội là vô nghĩa và hoàn toàn đi ngược lại các khái niệm về CSR.
Mô hình CSR của Polonsky và Speed (2001): Mô hình này chỉ nghiên cứu về hai khía cạnh “tài trợ” và “từ thiện”. Theo đó, “tài trợ” có thể được coi như là đầu tư có chiến lược, qua tiền mặt hoặc thiết bị hay nguồn lực con người, nhằm khai thác các tiềm năng thương mại với việc tài sản sẽ được quay trở lại. Còn việc “từ thiện” liên quan đến việc công ty tự nguyện đóng góp tiền bạc hay cách thức khác cho các vấn đề xã hội đáng quan tâm mà không có sự đòi hỏi lợi nhuận mang lại. Mô hình của Dahlsrud (2006): Mô hình tập trung vào 5 yếu tố sau: i) Kinh tế: doanh nghiệp phải thực hiện tốt các trách nhiệm về kinh tế rồi sau đó mới tiếp tục với các cấp độ khác cao hơn về CSR.
ii) Các bên liên quan: bên cạnh việc theo đuổi các mục tiêu kinh tế, các chiến lược CSR của doanh nghiệp cần phải quan tâm đến các nhóm hữu quan5; iii) Phạm vi xã hội: các học giả kinh tế cho rằng thách thức của doanh nghiệp trong tương lai không phải là sự thay đổi công nghệ mà chính là sự giải quyết các vấn đề xã hội của doanh nghiệp. Chính vì vậy yếu tố về phạm vi xã hội đóng một vai trò quan trọng trong tương lai; iv) Môi trường: công ty cần phải cam kết rằng các sản phẩm mà công ty sản xuất ra phải là những sản phẩm an toàn và đền bù cho sự phá hoại môi trường sống của cộng đồng địa phương; v) Từ thiện: công ty đã thực hiện được phạm vi về môi trường thì xem như nó đã đáp ứng được CSR vì nó đã chấp hành các quy tắc và luật lệ của CSR. Tuy nhiên, việc đóng góp cho từ thiện (mang tính tự nguyện) sẽ mang lại danh tiếng cho công ty. Mô hình kim tự tháp Carroll (1991): Theo mô hình này, căn cứ vào sự phân tầng cấp độ trách nhiệm của doanh nghiệp thì CSR bao hàm bốn thành tố quan trọng như sau: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.
Bốn trụ cột này đã được Carroll mô tả và thiết kế dưới mô hình kim tự tháp CSR với 4 tầng như hình ảnh minh họa bên dưới. 5 Đối tượng hữu quan (tiếng Anh: Stakeholders) là khái niệm chỉ những bên mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm và những bên này có mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp. Mô hình kim tự tháp của Carroll (1991) 1. Đặc điểm mô hình kim tự tháp của Carroll Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn mô hình của Carroll để nghiên cứu hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của Công ty Vinaconex 25 trong bối cảnh dịch bệnh Covid 19 với những lý do như sau: + Đầu tiên, đây là mô hình có tính toàn diện và khả thi cao.
Mô hình này có thể được áp dụng trong việc xây dựng khuôn khổ chính sách về CSR của Việt Nam. + Việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng giúp xóa đi những hoài nghi về tính trung thực trong những chương trình CSR của doanh nghiệp, đặc biệt càng thiết thực hơn trong bối cảnh dịch bệnh. Cũng vì vậy, nó xóa đi ranh giới của việc thực hiện CSR là “vì mình” hay “vì người”, khiến hai mục đích này liên kết với nhau. + Cuối cùng, ranh giới giữa các tầng kim tự tháp luôn chồng lên nhau, không tách rời và tác động lẫn nhau.
Điều này cho thấy mối quan hệ giữa các trụ cột vô cùng mật thiết, có mối liên hệ quan trọng và chi phối đến các trách nhiệm còn lại. Mô tả về Mô hình kim tự tháp của Carroll, CSR vững chắc sẽ được xây dựng bởi bốn trụ cột trong đó trách nhiệm kinh tế đóng vai trò nền tảng đầu tiên, tiếp đến là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức được xếp ở vị trí thứ ba, và cuối cùng là trách nhiệm từ thiện nằm ở đỉnh của kim tự tháp. Theo đó: + Trách nhiệm kinh tế: Theo mô hình kim tự tháp, đây là trách nhiệm đầu tiên cũng là quan trọng nhất. Bởi lẽ các mục tiêu như tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết.
Một khi mục tiêu kinh tế không được thỏa mãn thì doanh nghiệp cũng không thể tồn tại để đáp ứng các trách nhiệm khác. 10 Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trên khía cạnh về kinh tế là doanh nghiệp “phải sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần và muốn với một mức giá có thể duy trì DN và làm thỏa mãn trách nhiệm của DN với các nhà đầu tư; tìm kiếm nguồn cung ứng lao động, phát hiện những nguồn tài nguyên mới, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển sản phẩm; phân phối các nguồn sản xuất như hàng hoá và dịch vụ như thế nào trong hệ thống xã hội. Trong khi thực hiện các công việc này, các DN thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DN”. Những điều kiện tiên quyết khi thực hiện nghĩa vụ kinh tế trong doanh nghiệp là cần phải đảm bảo đạt được lợi nhuận kỳ vọng, hoạt động kinh doanh hiệu quả, tăng trưởng doanh nghiệp bền vững.