Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế Việt Nam khi chiếm khoảng 98,1% tổng số doanh nghiệp và đóng góp hơn 45% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm dỡ bỏ rào cản và hỗ trợ vốn, khu vực này vẫn liên tục đối mặt với những hạn chế lớn về mặt tài chính. Số liệu thống kê qua các thời kỳ cho thấy tỷ lệ cho vay DNVVN trên tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt mức 12,34% (năm 2006), 15,81% (năm 2010) và 35,61% (năm 2011). Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2018), có tới hơn 70% DNVVN chưa tiếp cận được nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại (NHTM).

Trong giai đoạn 2019 - 2021, đại dịch COVID-19 bùng phát đã tác động nặng nề đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp. Theo Đinh Thị Hải Phong và cộng sự (2020), tính đến tháng 4 năm 2020 có khoảng 86% DNVVN chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh, hơn 45% doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu hụt vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, nhiều đơn vị phải cắt giảm lao động và số lượng doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh tăng 33,6% so với cùng kỳ năm 2019. Tình trạng thiếu hụt vốn, khan hiếm tài sản bảo đảm (TSBĐ), sự thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính (BCTC) cùng lịch sử tín dụng phức tạp do giao dịch phân tán tại nhiều ngân hàng đã tạo nên rào cản nghiêm trọng trong việc tiếp cận tín dụng. Tại thành phố Hà Nội, khối DNVVN chiếm tới 97% trên tổng số 318 nghìn doanh nghiệp (Gia Huy, 2021), do đó việc tìm kiếm giải pháp khơi thông dòng vốn tín dụng ngân hàng cho khu vực này là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là tập trung phân tích khả năng tiếp cận nguồn vốn NHTM của các DNVVN trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng thuận lợi hơn. Đề tài xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về khả năng tiếp cận nguồn vốn NHTM của DNVVN.
  2. Đánh giá thực trạng khả năng tiếp cận nguồn vốn NHTM của các DNVVN tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 - 2021.
  3. Đưa ra giải pháp và khuyến nghị giúp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn NHTM của DNVVN.

Để đạt được các mục tiêu trên, khóa luận giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Các tiêu chí đánh giá khả năng tiếp cận vốn tín dụng NHTM của DNVVN là gì?
  2. Khả năng tiếp cận vốn tín dụng NHTM tại thành phố Hà Nội của DNVVN hiện nay như thế nào?
  3. DNVVN, NHTM, Chính phủ và địa phương cần phải làm gì để tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ các DNVVN tiếp cận vốn tín dụng NHTM?
  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận nguồn vốn NHTM của DNVVN trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Các DNVVN hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội.
    • Thời gian: Dữ liệu thực trạng thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2019 - 2021; số liệu khảo sát sơ cấp được thực hiện trong tháng 4 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và các công trình nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp:

  • Khái niệm và tiêu chí phân loại DNVVN: Căn cứ theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP và trực tiếp áp dụng Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, quy mô doanh nghiệp được phân định thành siêu nhỏ, nhỏ và vừa dựa trên các tiêu chí: số lao động tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bình quân năm, tổng nguồn vốn (hoặc tổng tài sản) và tổng doanh thu năm, chia theo hai nhóm lĩnh vực chính (Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản - Công nghiệp, xây dựng và Thương mại, dịch vụ).
Lĩnh vực Tiêu chí Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Nông, lâm, thủy sản; Công nghiệp, xây dựng Lao động tham gia BHXH bình quân $\le$ 10 người Từ trên 10 người đến 100 người Từ trên 100 người đến 200 người
Tổng nguồn vốn hoặc Tổng doanh thu Nguồn vốn $\le$ 3 tỷ đồng hoặc Doanh thu $\le$ 3 tỷ đồng Nguồn vốn từ > 3 tỷ đến 20 tỷ đồng; hoặc Doanh thu từ > 3 tỷ đến 50 tỷ đồng Nguồn vốn từ > 20 tỷ đến 100 tỷ đồng; hoặc Doanh thu từ > 50 tỷ đến 200 tỷ đồng
Thương mại và dịch vụ Lao động tham gia BHXH bình quân $\le$ 10 người Từ trên 10 người đến 50 người Từ trên 50 người đến 100 người
Tổng nguồn vốn hoặc Tổng doanh thu Nguồn vốn $\le$ 3 tỷ đồng hoặc Doanh thu $\le$ 10 tỷ đồng Nguồn vốn từ > 3 tỷ đến 50 tỷ đồng; hoặc Doanh thu từ > 10 tỷ đến 100 tỷ đồng Nguồn vốn từ > 50 tỷ đến 100 tỷ đồng; hoặc Doanh thu từ > 100 tỷ đến 300 tỷ đồng
  • Khái niệm vốn tín dụng và khả năng tiếp cận vốn: Tín dụng ngân hàng được xác định là việc NHTM chuyển giao cho DNVVN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh trong thời hạn nhất định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn. Dẫn chiếu quan điểm của Nguyễn Thị Kim Lý (2013) và Đặng Thị Huyền Hương (2016), khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNVVN là việc doanh nghiệp có thể vay được vốn từ NHTM khi phát sinh nhu cầu, đáp ứng các điều kiện vay với mức lãi suất và chi phí hợp lý. Khả năng tiếp cận được coi là tối ưu khi doanh nghiệp được giải ngân đầy đủ và kịp thời.
  • Hệ thống tiêu chí đánh giá (kế thừa và điều chỉnh từ Trần Quốc Hoàn, 2018):
    • Chỉ tiêu định tính: Mức độ chủ động tiếp cận nguồn vốn của DNVVN; Mức độ chủ động tiếp cận DNVVN của NHTM; Mức độ hỗ trợ của Chính phủ và chính quyền địa phương.
    • Chỉ tiêu định lượng: Mức tăng trưởng dư nợ tín dụng DNVVN ($\Delta DNTD$ và $%\Delta DNTD$), Tỷ trọng dư nợ DNVVN trên tổng dư nợ ($TDNTD$), Tốc độ tăng số lượng DNVVN được cấp tín dụng, Tỷ lệ DNVVN tiếp cận vốn trên số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ($TTCTD/DNĐK$), Tỷ lệ DNVVN tiếp cận vốn trên số doanh nghiệp thực tế hoạt động, và Dư nợ tín dụng bình quân một DNVVN ($DNTDBQ$).
  • Các nhóm nhân tố ảnh hưởng:
    • Thuộc về DNVVN: Sự chủ động của doanh nghiệp (biến nghiên cứu mới); Báo cáo tài chính; Tài sản bảo đảm (Abor và cộng sự, 2014; Rahman và cộng sự, 2017; Erdogan, 2018); Tuổi của doanh nghiệp (Kumari & Pankaj, 2019); Mối quan hệ với NHTM (Berger & Udell, 1995; Cole, 1998); Phương án kinh doanh; Lịch sử tín dụng (Erdogan, 2018); Năng lực của lãnh đạo và đội ngũ cố vấn; Chính sách hỗ trợ của Chính phủ và địa phương.
    • Thuộc về NHTM: Chính sách tín dụng đối với DNVVN; Các khoản chi phí doanh nghiệp phải trả để sử dụng vốn (lãi suất vay, phí thẩm định, phí công chứng, chi phí đăng ký giao dịch bảo đảm và tính phức tạp của thủ tục vay).

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ từ dữ liệu khảo sát và phương pháp phỏng vấn sâu có cấu trúc dựa trên bảng hỏi thiết kế sẵn (thang đo Likert 5 mức độ).

Quy trình nghiên cứu gồm 5 bước:

  1. Xây dựng phiếu khảo sát: Thiết kế gồm phần 1 (8 câu hỏi định danh, phân loại quy mô và xác định tình trạng vay vốn) và phần 2 (thang đo Likert đánh giá 3 nhóm nhân tố về DN, NHTM, chính quyền).
  2. Khảo sát thử: Tiến hành thử nghiệm trên 15 doanh nghiệp để kiểm tra độ phù hợp của bảng hỏi.
  3. Điều chỉnh bảng hỏi: Chỉnh sửa các câu hỏi sau thử nghiệm nhằm đảm bảo tính logic và sát thực tế.
  4. Thực hiện khảo sát: Thu thập dữ liệu từ ngày 08/04/2022 đến ngày 17/04/2022 qua hai kênh: trực tiếp (gặp gỡ chủ doanh nghiệp, kế toán, chuyên viên tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại các NHTM trên địa bàn Hà Nội, phỏng vấn sâu chuyên viên tại Techcombank Chi nhánh Thăng Long) và gián tiếp (qua điện thoại). Tổng số phiếu thu về là 145 phiếu.
  5. Xử lý dữ liệu: Sàng lọc và loại bỏ 6 phiếu không hợp lệ do thiếu thông tin quan trọng, thu được 139 phiếu hợp lệ để đưa vào phân tích. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ Cục Thống kê TP Hà Nội (2019 - 2021) và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng thương mại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết nền tảng và bằng chứng thực nghiệm liên quan đến tín dụng DNVVN. Tác giả phân tích các đặc thù của DNVVN: quy mô vốn nhỏ, phụ thuộc nhiều vào vốn tự có, khả năng tiếp cận tín dụng thấp; lĩnh vực đầu tư linh hoạt; sử dụng lao động phổ thông là chủ yếu, tỷ lệ qua đào tạo chưa cao; bộ máy quản lý gọn nhẹ nhưng năng lực quản trị tài chính hạn chế; thị phần và khả năng chi phối thị trường thấp. Về vai trò kinh tế, DNVVN được khẳng định là động lực tạo việc làm (Bartlett & Rangelova, 1997), khai thác nguồn lực địa phương, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường.

Về lược khảo nghiên cứu thực nghiệm, chương tổng thuật các nghiên cứu trong nước:

  • Đặng Anh Tài (2009) tại Long Xuyên: Hơn 53% DNVVN chưa tiếp cận được vốn ngân hàng, trong đó doanh nghiệp tư nhân bị từ chối cao nhất (83%), nguyên nhân chủ yếu do định giá TSBĐ thấp hơn nhu cầu vay.
  • Nguyễn Thị Ngọc Tuyền (2013) tại Trà Vinh: Khảo sát 120 DNVVN, chỉ ra 2 nhóm rào cản chính gồm năng lực tiếp cận của doanh nghiệp và cơ chế chính sách tín dụng của ngân hàng.
  • Trần Quốc Hoàn (2018) tại Phú Thọ: Khảo sát 387 mẫu DNVVN, xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố (chi phí vay vốn ảnh hưởng lớn nhất, tiếp theo là lịch sử vay nợ, chính sách hỗ trợ, TSBĐ, mối quan hệ, khả năng trả nợ, năng lực lãnh đạo và chính sách tín dụng); các doanh nghiệp dưới 3 năm tuổi và doanh nghiệp siêu nhỏ có mức độ tiếp cận thấp nhất.

Các nghiên cứu quốc tế được tổng thuật gồm:

  • Ashenafi Beyene Fanta (2016) tại Ethiopia: Khảo sát 102 DNVVN sản xuất, kiểm định logistic nhị phân cho thấy ngân hàng luôn đặt nặng TSBĐ và mối quan hệ để giảm thiểu rủi ro.
  • Tariku Gerito Denbelo (2020) tại Guji: Sử dụng OLS trên dữ liệu bảng 286 DNVVN trong 6 năm, xác định các biến tác động tích cực (tài sản hữu hình, tuổi, tăng trưởng, quy mô) và tiêu cực (rủi ro, vị trí, khả năng sinh lời) đến khả năng tiếp cận tài chính.
  • João Mabiala Lussuamo và Zélia Serrasqueiro (2020) tại Angola: Phỏng vấn 15 nhà quản trị, chỉ ra các rào cản về lãi suất cao, đòi hỏi bảo lãnh khắt khe.

Từ các tổng quan trên, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: Các nghiên cứu trước phần lớn đã cũ, chưa gắn với bối cảnh đặc thù giai đoạn phục hồi hậu COVID-19 và thường phân tích DNVVN một cách chung chung. Khóa luận tạo điểm mới khi phân tách DNVVN thành 3 nhóm trạng thái: (1) Doanh nghiệp có nhu cầu nhưng chưa vay được vốn; (2) Doanh nghiệp đang vay vốn; (3) Doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung yếu tố "Sự chủ động của doanh nghiệp" vào danh mục các nhân tố ảnh hưởng.

Chương 2: Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận, nguồn dữ liệu và các bước kỹ thuật thu thập, xử lý thông tin. Tác giả trình bày sơ đồ quy trình 5 bước từ khâu lập bảng hỏi với thang đo Likert 5 điểm, tiến hành khảo sát thử nghiệm 15 doanh nghiệp để hiệu chỉnh câu chữ, đến quá trình khảo sát thực địa từ ngày 08/04/2022 đến ngày 17/04/2022.

Quy trình thu thập kết hợp dữ liệu sơ cấp từ 145 phiếu điều tra (loại 6 phiếu không hợp lệ, giữ lại 139 phiếu hợp lệ) đối với chủ doanh nghiệp, kế toán và cán bộ tín dụng ngân hàng, kết hợp phỏng vấn sâu có cấu trúc tại Techcombank Chi nhánh Thăng Long. Dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thức từ Cục Thống kê TP Hà Nội và NHNN chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2019 - 2021. Phương pháp xử lý dựa trên thống kê mô tả định tính, đối chiếu tỷ lệ và diễn giải văn bản nhằm làm sáng tỏ các mối quan hệ giữa các nhân tố nội tại của doanh nghiệp, chính sách ngân hàng và môi trường pháp lý.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về khả năng tiếp cận nguồn vốn NHTM của các DNVVN trên địa bàn TPHN

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích thực nghiệm. Đầu tiên là bức tranh tổng quan về DNVVN tại Hà Nội giai đoạn 2019 - 2021:

  • DNVVN chiếm tới 97% trên tổng số 318 nghìn doanh nghiệp toàn thành phố (Gia Huy, 2021).
  • Theo Cục Thống kê TP Hà Nội (2020), tính đến 31/12/2019, thành phố có 169.351 DNVVN đang hoạt động phân theo nguồn vốn (gồm 79.557 DN siêu nhỏ, 73.299 DN nhỏ và 3.745 DN vừa).
  • Năm 2020, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới đạt 26.578 doanh nghiệp (giảm 2% so với 2019) với số vốn đăng ký khoảng 409 nghìn tỷ đồng (tăng 6%).
  • 10 tháng đầu năm 2021, Hà Nội ghi nhận 19,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký mới (giảm 10%), vốn đăng ký 275,2 nghìn tỷ đồng (giảm 2%); có 2,6 nghìn doanh nghiệp giải thể (tăng 26%), số doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh tăng 17% và có 9,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 76%) (Đậu Ngọc Hùng, 2021).

Tiếp theo, tác giả phân tích thống kê mô tả trên mẫu 139 phiếu khảo sát hợp lệ:

  • Lĩnh vực hoạt động: Doanh nghiệp thuộc khối Thương mại dịch vụ (TMDV) chiếm tỷ trọng áp đảo với 81% (110 doanh nghiệp); khối Công nghiệp và Xây dựng chiếm 14% (19 doanh nghiệp); khối Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ thấp nhất là 5% (7 doanh nghiệp). Lý do ngành TMDV chiếm số lượng lớn là do yêu cầu vốn đầu tư ban đầu và lao động ít, chu kỳ quay vòng nhanh, phù hợp với năng lực DNVVN.
  • Phân tích các nhân tố thuộc về DNVVN: Thông qua hệ thống bảng biểu từ Bảng 3.4 đến Bảng 3.11, kết quả cho thấy doanh nghiệp gặp trở ngại lớn về tính minh bạch của BCTC, phần lớn thiếu tài sản bảo đảm có giá trị cao hoặc giấy tờ pháp lý của tài sản chưa hoàn thiện. Đa số doanh nghiệp có tuổi đời hoạt động ngắn, phương án kinh doanh lập sơ sài và lịch sử giao dịch tín dụng phân tán. Yếu tố sự chủ động tìm hiểu các gói tín dụng và quy định vay vốn còn thấp.
  • Phân tích các nhân tố từ phía NHTM và cơ quan quản lý: Dựa trên Bảng 3.12 và Bảng 3.13, rào cản từ ngân hàng chủ yếu nằm ở quy trình thẩm định phức tạp, điều kiện cấp tín dụng khắt khe và các khoản chi phí liên quan (lãi suất, phí thẩm định, phí đăng ký giao dịch bảo đảm). Về phía Nhà nước, các chính sách hỗ trợ và quỹ bảo lãnh tín dụng tại địa phương triển khai trên thực tế còn hạn chế, chưa tiếp cận sâu rộng đến từng DNVVN.

Chương 4: Kết luận chung và giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn NHTM của các DNVVN

Dựa trên các phát hiện thực tế tại Chương 3, Chương 4 đưa ra các nhóm giải pháp và khuyến nghị có tính ứng dụng:

  • Về phía DNVVN: Nâng cao tính chủ động trong việc tìm hiểu thông tin tín dụng; minh bạch hóa hệ thống kế toán và BCTC; hoàn thiện các chứng từ sở hữu đối với TSBĐ; nâng cao chất lượng lập phương án kinh doanh khả thi; chú trọng quản trị dòng tiền để giữ gìn lịch sử tín dụng sạch; bồi dưỡng năng lực quản lý cho đội ngũ lãnh đạo.
  • Về phía NHTM: Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù DNVVN (tăng tỷ trọng cho vay tín chấp dựa trên dòng tiền, tài trợ chuỗi cung ứng); đơn giản hóa quy trình, thủ tục cấp tín dụng; công khai và minh bạch biểu phí, lãi suất; nâng cao tinh thần tư vấn, hỗ trợ của cán bộ tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ.
  • Khuyến nghị vĩ mô:
    • Đối với Chính phủ: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về hỗ trợ DNVVN, phát triển hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng.
    • Đối với NHNN: Điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất linh hoạt, ban hành hướng dẫn cơ chế cấp tín dụng đặc thù cho khối DNVVN.
    • Đối với UBND TP Hà Nội: Đẩy mạnh các chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp, minh bạch hóa quy hoạch và tạo điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản để doanh nghiệp có TSBĐ hợp lệ.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả mô tả định lượng và định tính cụ thể dựa trên dữ liệu văn bản:

  • Xác lập cơ cấu ngành nghề thực tế của các DNVVN tại Hà Nội tham gia khảo sát: 81% Thương mại dịch vụ (110 DN), 14% Công nghiệp - Xây dựng (19 DN) và 5% Nông - Lâm - Thủy sản (7 DN).
  • Cung cấp số liệu chi tiết về tác động của COVID-19 đối với cộng đồng doanh nghiệp Thủ đô năm 2020 - 2021: sự suy giảm doanh nghiệp thành lập mới (giảm 10%), gia tăng giải thể (tăng 26%), phản ánh rõ bối cảnh đứt gãy dòng tiền và suy yếu tài chính của DNVVN.
Tiêu chí Khối Thương mại - Dịch vụ Khối Công nghiệp - Xây dựng Khối Nông, lâm, thủy sản
Số lượng doanh nghiệp (mẫu) 110 doanh nghiệp 19 doanh nghiệp 7 doanh nghiệp
Tỷ lệ trong tổng mẫu hợp lệ 81% 14% 5%
Đặc điểm quy mô vốn và lao động Cần ít vốn ban đầu, ít lao động, chu kỳ ngắn Nhu cầu vốn và mặt bằng lớn hơn Nhu cầu vốn đặc thù, số lượng rất ít

Về mặt đóng góp:

  • Về lý luận: Hệ thống hóa chi tiết các chỉ tiêu định tính và định lượng đánh giá khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng (kế thừa công thức tính tốc độ tăng dư nợ, tỷ trọng dư nợ, tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận vốn, dư nợ bình quân). Khóa luận bổ sung nhân tố "Sự chủ động của doanh nghiệp" - một khía cạnh mà các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu phân tích.
  • Về góc độ tiếp cận: Đề tài đề xuất khung phân loại DNVVN theo 3 trạng thái tiếp cận tín dụng ((1) có nhu cầu nhưng chưa vay được, (2) đang vay, (3) không có nhu cầu vay), giúp việc xem xét và đề xuất giải pháp có tính mục tiêu rõ ràng hơn thay vì cào bằng mọi đối tượng.
  • Về thực tiễn: Cung cấp bức tranh thực trạng tại Hà Nội giai đoạn hậu COVID-19, đồng thời đưa ra các khuyến nghị giải pháp gắn kết giữa ba chủ thể: DNVVN, NHTM và các cơ quan quản lý Nhà nước (Chính phủ, NHNN, UBND TP Hà Nội).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự nhận diện các giới hạn nghiên cứu:

  • Quy mô mẫu khảo sát: Số lượng 139 phiếu hợp lệ còn hạn chế do thời gian tiến hành ngắn (từ 08/04/2022 đến 17/04/2022). Kênh khảo sát qua điện thoại đạt tỷ lệ phản hồi thấp do đối tượng khảo sát từ chối hoặc bận rộn.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Đề tài chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính, thống kê mô tả tỷ lệ và phỏng vấn sâu có cấu trúc. Việc tuân thủ bảng hỏi có sẵn hạn chế khả năng khai thác sâu các thông tin nằm ngoài kịch bản. Nghiên cứu chưa áp dụng các mô hình hồi quy kinh tế lượng định lượng (như hồi quy OLS hay Binary Logistic) để lượng hóa mức độ tác động và tương quan giữa các biến.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi và quy mô mẫu khảo sát sang nhiều địa bàn kinh tế trọng điểm; ứng dụng các mô hình kinh tế lượng chuyên sâu nhằm kiểm định định lượng chính xác trọng số của các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định giải ngân tín dụng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh khi làm khóa luận, luận văn về tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; có thể tham khảo trực tiếp cấu trúc phiếu khảo sát thang đo Likert, quy trình 5 bước thu thập dữ liệu và hệ thống chỉ tiêu định lượng đánh giá dư nợ tín dụng.
  • Cán bộ tín dụng và nhà quản trị ngân hàng thương mại trong việc nắm bắt tâm lý, rào cản thực tế của khách hàng DNVVN tại Hà Nội, từ đó cải tiến quy trình thẩm định và thiết kế sản phẩm tín dụng phù hợp.
  • Lãnh đạo và bộ phận kế toán của các DNVVN nhằm nhận diện rõ các tiêu chuẩn mà ngân hàng yêu cầu đối với BCTC, TSBĐ và phương án kinh doanh khi lập hồ sơ vay vốn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân loại các DNVVN thành những nhóm đối tượng nào khi nghiên cứu khả năng tiếp cận vốn?
Tác giả chia DNVVN thành 3 nhóm dựa trên khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng: (1) Doanh nghiệp có nhu cầu nhưng chưa vay được vốn tín dụng ngân hàng; (2) Doanh nghiệp đang vay vốn tín dụng ngân hàng; (3) Doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng.

2. Mẫu khảo sát sơ cấp 139 doanh nghiệp hợp lệ tại Hà Nội được phân bổ như thế nào theo lĩnh vực hoạt động?
Mẫu khảo sát gồm 110 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Thương mại dịch vụ (chiếm 81%), 19 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Công nghiệp, xây dựng (chiếm 14%) và 7 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (chiếm 5%).

3. Nhân tố mới nào thuộc về DNVVN được tác giả đưa vào nội dung phân tích so với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây?
Tác giả xác định "Sự chủ động của doanh nghiệp" (chủ động tìm hiểu điều kiện vay, làm rõ mục đích vay, hợp thức hóa giấy tờ, bằng sáng chế) là điểm mới của đề tài, do các nghiên cứu trước đây hầu như chưa phân tích riêng yếu tố này.

4. Dữ liệu thực trạng được thu thập từ các nguồn thứ cấp nào và phản ánh tình hình doanh nghiệp tại Hà Nội giai đoạn 2019 - 2021 ra sao?
Dữ liệu được khai thác từ Cục Thống kê TP Hà Nội và NHNN chi nhánh Hà Nội. Dữ liệu cho thấy tính đến 31/12/2019, Hà Nội có 169.351 DNVVN đang hoạt động (79.557 siêu nhỏ, 73.299 nhỏ, 3.745 vừa). Trong 10 tháng đầu năm 2021 dưới ảnh hưởng của dịch bệnh, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 10%, doanh nghiệp giải thể tăng 26%, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng 17%.

5. Bảng hỏi khảo sát chính thức của khóa luận được cấu trúc như thế nào?
Phiếu khảo sát gồm hai phần chính: Phần đầu gồm 8 câu hỏi về thông tin chung của doanh nghiệp (tên, ngành nghề, doanh thu, nguồn vốn, số lao động, thời gian hoạt động, mục đích vay và tình trạng vay thực tế); Phần tiếp theo sử dụng thang đo Likert 5 mức độ đánh giá các nhân tố ảnh hưởng chia theo 3 nhóm (Về phía DN, Về phía NHTM, Về phía Chính phủ và địa phương).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thu Uyên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng thương mại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thông qua dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2019 - 2021 và khảo sát sơ cấp 139 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, công trình làm rõ những trở ngại cốt lõi về tài sản bảo đảm, tính minh bạch tài chính và quy trình thẩm định tín dụng trong bối cảnh ảnh hưởng của dịch COVID-19. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện năng lực nội tại của doanh nghiệp, đổi mới chính sách của ngân hàng thương mại đến các khuyến nghị hoàn thiện cơ chế hỗ trợ vĩ mô.