CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN VỐN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Những vấn đề cơ bản về DNVVN 1. Khái niệm về DNVVN Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 (2014). Tại Việt Nam, khái niệm DNVVN được Chính phủ quy định cụ thể trong các nghị định và theo từng thời kỳ phát triển mà các tiêu chí để xác định DNVVN có thể được thay đổi cho phù hợp.
Theo nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNVVN định nghĩa: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh thoe pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người” Ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 8 năm 2009 và thay thế nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ. Theo đó, “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài. Sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm)” Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 (2014).
4 Căn cứ theo quy mô của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp được chia thành các nhóm: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, và doanh nghiệp lớn. Ở các quốc gia khác nhau, các tiêu chí để xác định DNVVN cũng khác nhau. Theo Trần Quốc Hoàn (2018) thì các quốc gia sử dụng phổ biến nhất hiện nay 3 tiếu chí là số lao động, doanh thu và tổng tài sản để phân loại DNVVN. Tại Việt Nam, khái niệm về DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, có số lao động ít và quy mô vốn nhỏ hoặc doanh thu ở mức hạn chế.
Cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tiêu chí xác định và phân loại DNVVN của Việt Nam Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô Số lao Số lao Số lao động tham Tổng động tham Tổng động tham Tổng gia bảo nguồn vốn gia bảo nguồn vốn gia bảo nguồn vốn hiểm xã hoặc hiểm xã hoặc hiểm xã hoặc hội bình doanh thu hội bình doanh thu hội bình doanh thu quân quân quân Lĩnh vực Tổng Tổng Tổng nguồn vốn nguồn vốn Nông nghiệp, nguồn vốn từ trên 3 tỷ Từ trên từ trên 20 lâm nghiệp, hoặc tổng Từ 10 10 người đồng đến 100 người tỷ đồng thuỷ sản; doanh thu người đến trở xuống 20 tỷ đồng; đến 200 đến 100 tỷ Công nghiệp từ 3 tỷ 100 người hoặc doanh người đồng; hoặc và xây dựng đồng trở thu từ trên doanh thu xuống 3 tỷ đồng từ trên 50 5 đến 50 tỷ tỷ đồng đồng đến 200 tỷ đồng Tổng Tổng Tổng nguồn vốn nguồn vốn nguồn vốn từ trên 50 từ trên 3 tỷ từ 3 tỷ tỷ đồng đồng đến đồng trở Từ trên 10 Từ trên 50 đến 100 tỷ Thương mại 10 người 50 tỷ đồng; xuống; người đến người đến đồng; hoặc và dịch vụ trở xuống hoặc doanh hoặc doanh 50 người 100 người doanh thu thu từ trên thu từ 10 từ trên 100 10 tỷ đồng tỷ đồng trở tỷ đồng đến 100 tỷ xuống đến 300 tỳ đồng đồng (Nguồn: Chính phủ, 2018, Nghị định số 39/2018/NĐ/CP) Tóm lại, DNVVN là tổ chức sản xuất kinh doanh có quy mô giới hạn theo những tiêu chí nhất định, gắn với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Đặc điểm của DNVVN Những đặc điểm cơ bản của DNNVV bao gồm: Th nh t, DNNVV c u m ốn h n chế, đa ph n à ốn t c à h năng tiếp cận ốn tín dụng ng n hàng thấp. Để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, DNNVV chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không lớn, diện tích mặt bằng nhỏ hoặc có thể tận dụng chính nhà cửa của chủ sở hữu,. Điều này tạo cho DNNVV lợi thế hơn so với doanh nghiệp lớn như thành lập và gia nhập thị trường dễ dàng, vốn đầu tư được thu hồi nhanh do lĩnh vực 6 DNNVV tham gia có chu kỳ sản xuất ngắn, không đỏi hỏi đầu tư trang thiết bị công nghệ nhiều,.
Nhưng do hạn chế về quy mô vốn nên DNNVV có những bất lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng. Với số vốn đầu tư ban đầu hạn chế, trong khi nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, yêu cầu đổi mới nâng cấp thiết bị, đầu tư công nghệ mới ngày càng tăng dẫn đến việc DNNVV dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn, trong khi đó việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng thường gặp phải rất nhiều khó khăn do DNNVV không đủ tài sản thế chấp khi vay vốn, trong khi đó khả năng lập hồ sơ vay vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh của DNNVV lại hạn chế,. Th hai, DNNVV c nh c đ u t s n uất inh d anh đa d ng. Những lợi thế của DNNVV như quy mô, tiềm lực tài chính nhỏ, linh hoạt trong kinh doanh, dễ thành lập, dễ ra nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh,.
đã tạo điều kiện cho các DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô vốn đầu tư nhỏ, khai thác tốt nguồn lao động và nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương, nắm bắt và đáp ứng nhanh chóng được những thay đổi của thị trường nên DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy và phát triển kinh tế của địa phương và đất nước. Th a DNNVV c số ng a động h n chế, a động c t nh độ à ta ngh ca h ng nhi u. DNNVV sử dụng số lao động hạn chế, lao động thường có trình độ tay nghề không cao, chủ yếu là lao động phổ thông.
Do hạn chế về nguồn tài chính, môi trường làm việc cũng như chế độ đãi ngộ nên DNNVV khó tuyển dụng được lao động có trình độ và tay nghề cao. Người lao động được đào tạo ở DNNVV chiếm một tỷ lệ không lớn. Ngoài ra, cơ hội thăng tiến cũng như tín ổn định và chế độ phúc lợi thấp khi làm việc ở DNNVV đã không đủ sức thu hút đối với những lao động có trình độ chuyên môn, năng lực và tay nghề cao. Thực tế này dẫn đến tình trạng DNNVV gặp nhiều khó 7 khăn, đặc biệt trong quản trị tài chính và xây dựng, quản lý, thực hiện các dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp năng động nhưng năng lực quản trị chưa cao. Bộ máy quản lý điều hành doanh nghiệp khá tinh gọn. DNNVV có đặc điểm là số lượng lao động hạn chế, công tác quản lý thường do chủ doanh nghiệp trực tiếp thực hiện, xử lý công việc hầu như được chuyển th ng từ chủ doanh nghiệp đến từng nhân viên mà không cần qua nhiều cấp quản lý trung gian. Điều này làm hiệu quả quản trị điều hành của DNNVV tăng lên, tiết kiệm được chi phí quản lý, nhanh chóng.
Tuy nhiên, việc phân công công việc trong DNNVV thường có hiện tượng đa nhiệm, mức độ chuyên môn hóa không cao, người lao động phải đảm nhận nhiều công việc chuyên môn khác nhau. Th năm DNNVV c h năng tiếp cận thị t ng thấp, g p nhi u h hăn hi hội nhập inh tế uốc tế. DNNVV thường không dành kinh phí lớn cho hoạt động marketing nên việc xây dựng và định vị thương hiệu trên thị trường còn nhiều hạn chế, khó vươn ra thị trường quốc tế. Thị phần của DNNVV không lớn, khả năng chi phối thị trường không cao.
Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược kinh doanh của DNNVV. Vai trò của DNVV Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia hoặc khu vực gắn liền với trình độ phát triển của khu vực doanh nghiệp. Trong bất kỳ nền kinh tế nào, có một khoảng thời gian gián đoạn đáng kể giữa số lượng DNVVN và số lượng doanh nghiệp lớn, theo đó doanh nghiệp nhỏ có vai trò quan trọng và chi phối đới với tăng trưởng kinh tế cũng như phát triển của bất kỳ khu vực nào, dù ở các nền kinh tế phát triển hay đang phát triển Vai trò của DNNVV được thể hiện qua các nội dung sau: 8 Th nh t DNNVV gi i u ết tốt ấn đ i c àm à thu thập ch ng i a động, đ c bi t à a động địa ph ng. DNVVN đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua việc tạo việc làm và thu nhập cho người lao động.
Điều này đã được ghi nhận sớm từ Bartlett & Rangelova từ những năm 1997.Với số lượng đông đảo, hoạt động trên nhiều địa bàn, sử dụng nhiều lao động nên các DNNVV đã góp phần giải quyết ngay nhu cầu việc làm của địa phương, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là ở các vùng kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao. Với khả năng tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, DNNVV luôn được xem là động lực kinh tế quan trọng để thu h p khoảng cách về chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, qua đó góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội, mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư, góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia về phát triển bền vững. Th hai DNNVV c đ ng g p h ng nh à s ph t t iển inh tế hội của địa ph ng à đất n c. Số lượng DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế và có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh, trong tất cả các lĩnh vực và địa phương, do đó DNNVV đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước, góp phần thực hiện tốt công tác xã hội và các chương trình phát triển kinh tế quốc gia.