mở đầu cho những bất thường mà mô hình kiểu Mỹ đang tồn tại đã không lường trước được” [60,1]. Do vậy, các chính phủ cánh tả, “đầu tàu” là chính phủ của Tổng thống Chavez, đã lên ngôi với lời hứa và hi vọng sẽ thực hiện những cuộc cải cách để đưa đất nước thoát khỏi vòng khủng hoảng, đi theo hướng đi riêng phù hợp với tình hình đất nước chứ không phải đi lên con đường mà Mỹ đã vạch ra và dẫn họ đi vào. Như vậy, sự phát triển của phong trào cánh tả Mỹ Latinh và những biến động chính trị tại khu vực sau khi Tổng thống Hugo Chavez lên nắm quyền càng góp phần làm cho quan hệ giữa Mỹ và khu vực nói chung xấu đi, đặc biệt là mối quan hệ giữa Mỹ với Venezuela khi Venezuela, dưới sự lãnh đạo của Hugo Chavez lại là “kẻ cầm đầu” cho những biến động ấy. Mỹ sẽ phản ứng ra sao và hành động như thế nào để duy trì mối quan hệ với Venezuela và gìn giữ vị trí của Mỹ tại khu vực 19 Mỹ Latinh là một vấn đề quan trọng đối với chính quyền Mỹ bởi trên thực tế, Mỹ vẫn đang có những lợi ích thiết yếu cả về kinh tế và chính trị tại Mỹ Latinh nói chung và Venezuela nói riêng.
Chính sách đối ngoại của Mỹ và Venezuela trong giai đoạn 2001 đến nay Chính sách đối ngoại của Venezuela Chính sách đối ngoại của Venezuela luôn được đặt trong xu thế hợp tác quốc tế của khu vực Mỹ Latinh nói chung. Hơn nữa, Venezuela dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Hugo Chavez là một trong những nước phát triển và có ảnh hưởng lớn nhất trong khu vực này. Vì thế, trước khi tìm hiểu chính sách đối ngoại của Venezuela, cần phải có một cái nhìn bao quát về xu thế hợp tác quốc tế của khu vực Mỹ Latinh trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay. Nhìn chung trong giai đoạn này, dưới sự tác động của nhiều yếu tố quốc tế cũng như những diễn biến chính trị, xã hội và kinh tế xảy ra bên trong khu vực và từng quốc gia, đặc biệt là sự đổi hướng trọng tâm chính sách chiến lược của Mỹ.
Trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ không còn là Mỹ Latinh nữa, thậm chí còn có những băn khoăn rằng “Mỹ Latinh đang bị Mỹ lãng quên”, “người anh cả đã không còn quan tâm đến các em nữa”… Do đó, chính sách đối ngoại của các nước Mỹ Latinh cũng có nhiều thay đổi quan trọng. Trước hết, họ hướng tới mục tiêu tăng cường tính độc lập, tự chủ của mỗi nước, giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ. Bước sang thế kỷ XXI, mặc dù ảnh hưởng của Mỹ vẫn còn khá lớn đối với các nước Mỹ Latinh. Song, các nước này đang từng bước thực hiện chính sách đối ngoại, hướng tới mục tiêu hạn chế sự ảnh hưởng của Mỹ, thậm chí chống lại Mỹ.
Mục tiêu chính sách đối ngoại thứ hai của các nước Mỹ Latinh là ưu tiên thúc đẩy hội nhập liên kết khu vực thông qua tăng cường quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực với nhau theo tinh thần đoàn kết, hỗ trợ nhau cùng phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng. Các nước này đã phản đối ký Hiệp định Thương mại tự do Châu Mỹ (FTAA) do Mỹ khởi xướng. Trái lại, họ tự thành lập nhiều tổ chức hợp tác của khu vực mà không có sự hiện diện của Mỹ vừa là để củng cố tình đoàn kết giữa các nước trong khu vực vừa nhằm hạn chế ảnh hưởng của Mỹ, chẳng hạn như Liên minh Bolivar cho Châu Mỹ (ALBA), Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (UNASUR), Cộng đồng các quốc gia Mỹ Latinh và Caribe (CEALAC). Thứ ba, để thích ứng với hoàn cảnh quốc tế 20 mới sau Chiến tranh Lạnh, trong thời kỳ cả thế giới hợp tác, hội nhập, các nước trong khu vực này thực hiện chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ với các nước, các tổ chức, khu vực khác trên thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước lớn bên ngoài khu vực như Nga, Trung Quốc với hi vọng cân bằng, hạn chế ảnh hưởng truyền thống của Mỹ.
Trong bối cảnh chung về xu thế hợp tác chung của khu vực như trên, Venezuela cũng vạch ra cho mình những chính sách đối ngoại thể hiện rõ quan điểm, thái độ của giới cầm quyền đồng thời thể hiện được đường lối chính sách của Venezuela như những gì mà Tổng thống Chavez gọi là “Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI”. Đối với Mỹ, từ chỗ bị coi là “sân sau” của Mỹ, Venezuela thi hành chính sách độc lập, chống lại chính sách cường quyền của Mỹ, bảo vệ chủ quyền bình đẳng trong quan hệ quốc tế, lên án những chính sách can thiệp của Mỹ. Thái độ chống Mỹ của Hugo Chavez thể hiện ngay từ khi ông lên cầm quyền. Chavez không ngừng lên án chính sách bá quyền của Mỹ và đấu tranh cho một thế giới đa cực bằng việc thúc đẩy “cuộc cách mạng Boliva” như một mô hình cho các nước trong khu vực noi theo.
Nếu như trong quá khứ, người anh hùng dân tộc Simon Bolivar, với tư tưởng “độc lập, tự do, công bằng, bình đẳng, bác ái”, đã lãnh đạo cuộc cách mạng đấu tranh cho sự độc lập thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Tây Ban Nha thì ngày nay, Tổng thống Hugo Chavez lặp lại một cuộc cách mạng như thế nhằm đưa đất nước thoát khỏi ảnh hưởng và những chính sách đơn phương áp đặt và sự can thiệp vào việc thiết lập bộ máy chính quyền của Mỹ. Tuy không ngừng chỉ trích Mỹ và chống đối những hành động của Mỹ nhưng, mặt khác, Venezuela vẫn duy trì quan hệ kinh tế với Mỹ vì những lợi ích của cả hai nước song ở mức độ cảnh giác, dè chừng và tập hợp lực lượng, và luôn trong tư thế sẵn sàng đối phó với sức ép của Mỹ. Không chỉ công khai chống lại bá quyền Mỹ bằng những chỉ trích, lên án Mỹ mà Venezuela thực hiện những chính sách đối ngoại với các nước khác khiến cho lợi ích Mỹ bị đe dọa. Tổng thống Hugo Chavez theo đuổi chính sách đối ngoại thúc đẩy đoàn kết Mỹ Latinh và quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, tăng cường sức mạnh trong khu vực nhằm hạn chế và dần loại bỏ ảnh hưởng của Mỹ.
Chính Tổng thống Chavez là người đưa ra sáng kiến “Liên minh Bolivar cho Châu Mỹ” nhằm tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ cánh tả Mỹ Latinh, chống lại những chính sách và 21 hành động mà Tổng thống Chavez cho là chủ nghĩa cường quyền Mỹ. Tổ chức này cũng được coi là sự lựa chọn thay thế cho FTAA mà Mỹ đã đề ra. Tổng thống Chavez cũng là người đưa ra đề nghị thành lập Hội đồng phòng thủ Nam Mỹ (SATO). Ông cho rằng “Các nước Nam Mỹ cần tạo nên một chính sách riêng biệt trong lĩnh vực quốc phòng”, và “nếu có NATO (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương), thì tại sao không thể có SATO” [9,29].
Venezuela còn tăng cường đoàn kết phong trào cánh tả Mỹ Latinh, là lá cờ đầu trong phong trào đấu tranh vì tiến bộ, chống lại sự phụ thuộc vào Mỹ này. Trên tinh thần chung toàn khu vực, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước ngoài khu vực, sau khi lên nắm quyền, dựa trên sức mạnh của nền kinh tế được duy trì nhờ nguồn dầu mỏ, Tổng thống Hugo Chavez cũng đưa ra những chính sách nhằm tăng cường hợp tác với nước lớn ở Châu Âu, Châu Á như Nga và Trung Quốc. Tổng thống Chavez đang hướng tới việc xuất khẩu nhiều dầu lửa hơn sang Trung Quốc, thay thế dần vai trò là nước nhập khẩu dầu lớn nhất của Mỹ. Chính sách đó giống như một phương án trù bị để sẵn sàng đối phó với Mỹ khi Mỹ có hành động can thiệp vào Venezuela.
Chính sách này cùng với những hợp đồng mua bán vũ khí quân sự của Nga khiến cho Mỹ ngày càng lo ngại và lợi ích của Mỹ cũng bị đe dọa. Rất có thể, một động thái nào đó của Mỹ sẽ khiến Tổng thống Chavez “nổi giận” cắt nguồn cung cấp dầu chiếm tới 15% lượng dầu nhập khẩu của Mỹ, đó là cả một vấn đề lớn cần phải hết sức thận trọng đối với chính quyền Mỹ. Ngoài ra, Tổng thống Chavez còn có những chính sách thân thiện với những nước bị Mỹ liệt vào “trục ma quỷ” như Bắc Triều Tiên, Iran, Iraq… Đặc biệt là chính sách thân thiện với Cuba càng khiến cho Mỹ lo ngại và tác động trực tiếp tới mối quan hệ vốn đã không được êm ấm của hai nước kể từ khi Tổng thống Chavez điều hành đất nước. Venezuela đã không ngừng giúp đỡ cho Cuba trong những ngày tháng khó khăn chồng chất do hậu quả của việc bị Mỹ cấm vận.
Mỗi ngày, Venezuela cung cấp cho Cuba 80. Và đổi lại, hơn 60.000 bác sĩ, giáo viên, huấn luyện viên và chuyên gia Cuba đang làm việc tại Venezuela. Hai nước đã có sự hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, y tế, sản xuất lương thực, đánh bắt và du lịch… Trong chính trị, Tổng thống Chavez đã thừa nhận Chủ tịch Fidel Castro là người cố vấn chính trị cho ông, đem lại cho ông nguồn cảm hứng để theo đuổi con đường cách mạng “Xã hội chủ nghĩa thế kỷ 22 XXI”. Và cũng chính mối liên hệ này đã khiến cho những người chỉ trích nhà lãnh đạo Venezuela phải lo ngại.
Họ tố cáo ông có ý định đưa đất nước theo con đường độc tài độc đảng kiểu Cuba. Như vậy, chính sách đối ngoại của Venezuela trong giai đoạn này một mặt tập trung vào chống lại chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa Đế quốc Mỹ, một mặt tăng cường đoàn kết với Phong trào cánh tả Mỹ Latinh, với các nước Nam Mỹ, chủ trương đẩy mạnh quan hệ với Nga, Trung Quốc nhằm tạo thế cân bằng, tăng cường quan hệ hợp tác chiến lược với Cuba và các nước bị Mỹ coi là hỗ trợ cho khủng bố. Những chính sách này đe dọa trực tiếp những lợi ích thiết thực của Mỹ tại khu vực cũng như ở Venezuela không chỉ về kinh tế mà cả về an ninh - chính trị. Vị thế và vai trò của Mỹ đang dần thay đổi và được thay thế bởi các đối tác mới của Venezuela.
Sự hợp tác và gần gũi của Venezuela với các nước mà Mỹ cho là ủng hộ khủng bố và đang âm mưu sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt đe dọa trực tiếp đến an ninh thế giới cũng như nước Mỹ.