Đặt vấn đề Chăn nuôi gà là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai (sau chăn nuôi lợn) trong toàn ngành chăn nuôi của Việt Nam. Hàng năm, ngành chăn nuôi gà cung cấp khoảng 350 – 450 ngàn tấn thịt và hơn 2,5 – 3,5 tỷ quả trứng. Tuy nhiên, chăn nuôi gà ở nước ta vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩm hàng hóa còn nhỏ bé. Bình quân sản lượng thịt xẻ, trứng/người chỉ đạt 4,5 – 5,4kg/người/năm và 35 trứng/người/năm.
Sản xuất chưa tương ứng với tiềm năng, sản phẩm chưa đáp ứng đủ nhu cầu xã hội. Một lượng sản phẩm chăn nuôi gà nhập khẩu từ nước ngoài về rất lớn dù thuế suất cao nhưng các sản phẩm nhập khẩu vẫn từng bước chiếm lĩnh một phần thị trường của Việt Nam. Để đưa ra những giải pháp khắc phục một phần tình trạng trên, nước ta đã nhập các giống gà cao sản trên thế giới về nuôi thích nghi, trên cơ sở đó ta nhân giống rộng rãi và xây dựng quy trình chăn nuôi cho phù hợp với từng giống trong từng điều kiện chăn nuôi cụ thể. Giống gà Isa Shaver có nguồn gốc từ Pháp, là giống gà lông màu có năng suất trứng rất cao, chất lượng thơm ngon.
Tỉnh Thái Nguyên là nơi chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm gia cầm khá cao. Tỉnh Thái Nguyên đã nuôi nhiều giống gà nhập nội và cho kết quả cao, tuy nhiên đối với giống gà Isa Shaver cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào có hệ thống. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong ngành chăn nuôi gà, ngoài những yếu tố như: giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng,… thì vấn đề phòng trị bệnh cho gà có ý nghĩa rất lớn. n 15 Trong những năm gần đây, dịch bệnh ở đàn gia cầm nước ta có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, ảnh hưởng rất lớn đến số lượng và chất lượng đàn gà.
Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với các bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD,… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó, gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp. Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do vi khuẩn Gram âm là Mycoplasma gallimarum gây ra. Tỷ lệ gà chết do CRD thường từ 15 – 20 %, nhưng điều quan trọng là khi gà bị viêm đường hô hấp kéo dài sẽ làm cho gà gầy yếu, sinh trưởng kém, giảm tỷ lệ đẻ trứng, gây thiệt hại lớn về kinh tế.
Trong môi trường chăn nuôi công nghiệp, bệnh CRD là bệnh rất phổ biến và dễ phát sinh thành dịch. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên đàn gà Isa shaver thương phẩm nuôi vụ hè thu tại xã Quyết Thắng – Thành phố Thái Nguyên và hiệu lực của thuốc Genta – Tylo trong điều trị bệnh”. * Mục đích của đề tài: - Theo dõi khả năng nhiễm bệnh CRD trên đàn gà nuôi trong điều kiện chuồng hở vụ hè thu. - Đánh giá hiệu lực điều trị bệnh của thuốc Genta-Tylo.
- Theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản của gà ISA – Shaver nuôi vụ hè thu. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học * Đặc điểm sinh lý hô hấp ở gà - Đặc điểm chung Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia cầm, do nhiều loài Mycoplasma gây ra. Trong đó, quan trọng nhất là Mycoplasma gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra.
Mầm bệnh MG là nguyên nhân chính gây bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà. n 16 Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc điều trị tốn kém (Đào Thị Hảo và cs, 2007) [8]. Bệnh CRD còn gọi là bệnh “hen gà”, chúng lây lan nhanh qua đường hô hấp, không khí, bụi bẩn nhiễm vi khuẩn này. Bệnh truyền dọc từ đời mẹ sang con qua trứng, lây qua tiếp xúc trực tiếp gà bệnh, qua thức ăn,…(Lê Hồng Mận, 2003) [12].
CRD có thể xếp theo 3 dạng sau: + Bệnh đường hô hấp mãn tính: nguyên nhân bị bệnh là do gà bị stress, lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường có kiêm nhiễm một số vi khuẩn thứ cấp như: E.coli, Streptococcus,… + Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính thứ cấp: xuất phát từ gà đã bị bệnh khác như cầu trùng, viêm phế quản truyền nhiễm,… làm cơ thể yếu đi, tạo điều kiện cho vi khuẩn MG bùng lên sinh bệnh. + Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính giả: thể hiện triệu chứng, bệnh tích ở túi khí của một số bệnh khác như bệnh Mycoplasmosis (Nguyễn Thanh Sơn và Lê Hồng Mận, 2004) [16]. - Mầm bệnh: Theo Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2004) [7] cho biết: Hầu hết các loại gia cầm đều mẫn cảm với Mycoplasma. Đặc biệt ở gà nuôi theo hướng công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao, bệnh này xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới.
Trong những năm gần đây, người ta sử dụng một số kháng sinh như: Tiamulin, Tylosin, Enrofloxacin,… để điều trị nên đã khống chế được bệnh này. Theo Hoàng Huy Liệu (2002) [32] cho biết, CRD do 3 loài Mycoplasma gây ra: M. Nhưng chủ yếu là loài M. Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển vi thì giống như tế bào động vật nhỏ, không nhân; Gallisepticum có nghĩa là “gây độc cho gà mái”.
Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà đẻ trứng rất cao và sản lượng trứng giảm đáng kể. Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [5], Mycoplasma có kích thước ngang khoảng 150 - 300 ηm thường là 250 ηm, khó nhìn thấy dưới kính hiển vi quang học n 17 bình thường. Mycoplasma không có thành tế bào, bắt màu Gram âm, có tính đa hình thái, có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn, dễ mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt,…), không mẫn cảm với Penicillin, Cicloserin, Cephalosporin, Baxitraxin và các kháng sinh khác ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào. Mycoplasma là những sinh vật nguyên thủy chưa có vách tế bào, cho nên chúng dễ bị biến đổi hình dạng, đồng thời cũng là loài vi sinh vật nhỏ nhất trong sinh giới có đời sống dinh dưỡng độc lập.
Vi khuẩn có hình dạng nhỏ riêng lẻ hay tập trung từng đôi, từng chuỗi ngắn, hình vòng nhẫn, vòng khuyên là loại Gram âm khó bắt màu thuốc nhuộm thông thường, phải dùng phương pháp nhuộm Giemsa mới quan sát được. Màng của Mycoplasma chỉ là lớp màng nguyên sinh chất dày từ 70 - 100A0. Trong tế bào Mycoplasma có thể nhìn thấy các hạt riboxom và thể nhân. Mycoplasma thuộc loại vi khuẩn hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc, nhiệt độ thích hợp cho Mycoplasma là 370C, pH: 7,0 - 8,0.
Chúng có thể phát triển tốt trên phôi gà và trên một số môi trường nhân tạo như môi trường huyết thanh, môi trường có chứa Hemoglubin, Cistein. Trên môi trường thạch, chúng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ bé. Khi phát triển trên môi trường dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và tạo thành những kết tủa. Trong môi trường thạch máu Mycoplasma làm dung huyết (Nguyễn Xuân Thành và Nguyễn Thị Hiền, 2007) [17].
Mycoplasma bị diệt ở nhiệt độ 45 - 550C trong vòng 15 phút. Chúng rất mẫn cẩm với sự khô cạn, tia tử ngoại, chất sát trùng và bị ức chế bởi các chất kháng sinh có khả năng ngăn cản quá trình tổng hợp protein của Mycoplasma như: Tetracyclin, Erythomycin,… - Đặc điểm dịch tễ MG chủ yếu gây bệnh ở gà và gà tây, tuy nhiên người ta cũng phân lập được mầm bệnh này ở gà lôi, gà gô, công,… Gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ nhiễm bệnh này hơn các lứa tuổi khác, bệnh thường hay phát vào vụ đông khi có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao. MG rất dễ dàng nhiễm từ con này sang con khác thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gián tiếp. Khi MG cư trú ở đường hô hấp trên, một lượng lớn n 18 mầm bệnh được giải phóng ra môi trường xung quanh bằng sự xuất tiết của dịch rỉ mũi, qua hô hấp và ho.
Sự truyền lây phụ thuộc vào kích thước của vùng khu trú mầm bệnh, số lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa chúng. Những đàn gà bị nhiễm bệnh mà phải đối đầu với các tác động bất lợi khác nữa như nồng độ amoniac ở môi trường cao, thời tiết thay đổi đột ngột, các mầm bệnh như virus Newcastle, Gumboro, cúm,… thì có thể làm tăng bài tiết mầm bệnh MG (Hội bác sỹ thú y, 2008) [31]. Theo Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2004) [7], CRD nếu chỉ có một mình loại Mycoplasma gây bệnh thì nhẹ nhưng nếu kế phát thì nặng hơn hoặc bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác hay môi trường ẩm thấp, dơ bẩn thì bệnh sẽ nặng hơn. Đặc biệt, nếu ghép với 3 bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, viêm phế quản truyền nhiễm và bệnh cúm thì bệnh càng kéo dài trầm trọng và không chữa được.
Thời gian tồn tại của MG ở ngoài cơ thể vật chủ (phân, lông,…) khác nhau từ 1 - 14 ngày, tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó bám. Vì vậy việc vệ sinh quần áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi kém thì đó cũng là một con đường truyền lây của bệnh. Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng trắng trứng là 3 tuần ở 50C, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; Ở lòng đỏ, mầm bệnh tồn tại 18 tuần ở 370C, 6 tuần ở 200C. Như vậy, những quả trứng giập, vỡ trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh.
Điều đáng chú ý là mầm bệnh có thể tồn tại ở trong tóc, da của người từ 1 - 2 ngày, vì vậy người làm việc trong đàn gà bệnh có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh. Một con đường truyền lây bệnh khác là sự truyền lây qua trứng. Ở giai đoạn cấp tính, MG dễ dàng tiến đến buồng trứng, tử cung và định cư ở đó, những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng nhiễm bệnh. MG không những được phân lập từ phôi mà còn được phân lập từ màng lòng đỏ trứng tươi.
Trong một số trường hợp cụ thể, sự lây nhiễm có thể thực hiện thông qua việc sử dụng vắc-xin virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh.