Đặt vấn đề Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Hiện nay chăn nuôi đang là ngành giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp ở nước ta, song song với việc chăn nuôi gia súc là để lấy thịt, sữa, da, lông… thì chăn nuôi gia cầm cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc cung cấp những thực phẩm giàu dinh dưỡng, làm phong phú thêm thực đơn trong mỗi bữa ăn. Ngoài ra phát triển chăn nuôi gia cầm còn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho các trang trại, hộ gia đình, đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở vùng nông thôn và tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có từ các ngành công nghiệp chế biến…tại địa phương. Chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng còn tạo nguồn phân bón hữu cơ, góp phần nâng cao năng suất cây trồng.
Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình dịch bệnh xảy ra nhiều và diễn biến phức tạp. Dù chăn nuôi theo phương thức nào thì dịch bệnh cũng là một trong những yếu tố gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng. Chăn nuôi gia cầm được nuôi phổ biến, rộng rãi ở các nông hộ, đến quy mô tập trung vừa, nhỏ… trong nhiều vùng sinh thái khác nhau. Trong đó một số bệnh thường gặp như tụ huyết trùng, Newcastle, bệnh đầu đen, đậu và một số các bệnh khác nữa ở gà là một trong những bệnh thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại đáng kể đến chăn nuôi gà.
Đây là bệnh do ký sinh trùng và các nguyên nhân do virut gây ra. Gà Cáy Củm là một giống gà địa phương nuôi theo phương thức bán chăn thả và chăn thả tự nhiên, hiện nay đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại điều kiện tỉnh Thái Nguyên. Để đánh giá khả năng thích nghi phòng chống dịch bệnh của gà Cáy Củm với điều kiện tại Thái Nguyên, nhằm phát triển nhân rộng việc chăn nuôi gà Cáy Củm, cung cấp thực phẩm có giá trị và bảo tồn nguồn gen quý này, chúng tôi tiến h 2 hành nghiên cứu đề tài: "Theo dõi một số bệnh thường gặp ở gà Cáy Củm và biện pháp phòng, trị tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa - Công ty khai khoáng miền núi Thái Nguyên". Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình mắc các bệnh thường gặp như Newcastle, bệnh cầu trùng, bệnh tụ huyết trùng và một số bệnh có thể gặp trên gà Cáy Củm chăn thả tại Thái Nguyên.
- Đưa ra các biện pháp phòng trị các bệnh như Newcastle, bệnh cầu trùng, bệnh tụ huyết trùngvà một số bệnh có thể gặp, đạt hiệu quả cao cho gà Cáy Củm. Mục tiêu nghiên cứu Phát hiện, chẩn đoán được các bệnh Newcattle, bệnh cầu trùng và một số bệnh có thể gặp ở gà Cáy Củm và đưa ra phương pháp điều trị tại trại chăn nuôi của chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa – Công ty CP khai khoáng miền núi tỉnh Thái Nguyên. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Đại cương về gia cầm Gia cầm là tên gọi chỉ chung cho các loài động vật có hai chân, có lông vũ, thuộc nhóm động vật có cánh được con người nuôi giữ, nhân giống nhằm mục đích sản xuất trứng, lấy thịt hay lông vũ. Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dã đã được con người thuần hóa cách đây hàng nghìn năm. Gia cầm có đặc điềm là có bộ xương nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay, và đẻ trứng sau khi trứng được ấp nở thành gia cầm non. Gia cầm sinh trưởng nhanh, là vì quá trình trao đổi chất lớn và có nhiệt độ cơ thể cao (gà 40 – 41oC, vịt 41-42oC, …).
Gia cầm có đầy đủ các cơ quan bộ phân như: hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ bài tiết, cơ quan sinh dục. Nhưng hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, cơ quan sinh dục,.có cấu tạo giải phẫu sinh lý khác nhiều điểm so với gia súc. Cụ thể là: + Hệ hô hấp gia cầm được cấu tạo gồm: Xoang mũi, khí quản, phế quản phổi và 9 túi khí chính nhờ đó mà cơ thể gia cầm nhẹ có thể bay được, bơi được, hơn nữa dịch hoàn của gia cầm nằm trong mà quá trình sinh sản vẫn diễn ra bình thường. + Hệ tiêu hóa gia cầm gồm: khoang miệng, hầu, thực quản, diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, ruột già, manh tràng, lỗ huyệt, tuyến tụy, gan và mật.
trong đó thì khoang miệng gia cầm không có má, không có môi, không có răng và chỉ có mỏ để lấy thức ăn. Thức ăn vào miệng được thấm nước bọt, được đưa xuống diều thông qua thực quản (tại đây thức ăn được diều thấm ướt, làm mềm một phần hydrat cacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amylase tạo ra quá trình vi sinh vật diều. Sau đó chuyển qua dạ dày tuyến ( do dạ dày tuyến có HCl, men pepsin tham gia phân giải protein thành pepton) thức ăn được nghiền nhỏ thấm đều dịch vị ở dạ dày cơ HCl và men pepsin protein tiếp tục được phân hủy, hydrat cacbon cũng được phân giải nhờ tác dụng của vi sinh vật trong thức ăn. Thức ăn từ dạ dày cơ được chuyển xuống ruột non dưới tác dụng của dịch ruột, dịch vị và dịch mật các chất dinh dưỡng cơ bản trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu.
h 4 Quá trình phân giải các chất trên ở manh tràng tiếp tục nhờ men của đường ruột và vi sinh vật nhưng rất ít. Do thức ăn qua đường tiêu hóa tiêu hóa rất nhanh nên khi gà nuốt phải thức ăn nước uống có chứa noãn hoàng Cầu trùng sẽ xuống ruột non, manh tràng trực tràng nên bệnh cầu trùng xảy ra nhanh vòng đời của cầu trùng ngắn (5 – 7 ngày). Hiểu biết về một số bệnh thường gặp ở gà 2. Bệnh cầu trùng * Đặc điểm về bệnh cầu trùng ở gà.
- Mỗi loại cầu trùng thường chỉ gây tác hại cho gà ở một lứa tuổi nhất định như: + E.tenella chủ yếu gây bệnh cho gà con dưới 45 ngày tuổi.brunetti chủ yếu ở gà lớn. - Gà bị nhiễm Cầu trùng ở lứa tuổi khác nhau thì mức độ nhiễm khác nhau (gà con bị nhiễm Cầu trùng thường thì sẽ chết nhiều hơn gà lớn và gà lớn chủ yếu chỉ là vật mang trùng). Gà bị nhiễm Cầu trùng chủ yếu qua đường tiêu hóa. * Đặc điểm của mầm bệnh ở gà.
- Cầu trùng thuộc ngành Srotozoa, lớp Spotozoa, bộ Coccidian, họ Eimeridae họ này thuộc nhiều giống nhưng có hai giống có quan hệ y học và thú y là: Eimridiae và Isospora. - Khi cầu trùng mới theo phân ra ngoài là một kén hay một noãn nang, Oocyst là những tế bào tử hình bầu dục, hình trứng, hình cầu có ba lớp vỏ. Lớp vỏ ngoài cùng rất mỏng, bên trong có chứa nguyên sinh chất lổn nhổn thành hạt, giữa nguyên sinh chất có chứa một nhân tương đối to. Cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình thành bốn bào tửcon và cũng xâm nhập vào niêm mạc ruột.
Giống Isospora ít gặp hơn và thường gặp ở chó và mèo. * Vòng đời cầu trùng ở gà. Vòng đời hay chu kỳ sinh học của cầu trùng gồm ba giai đoạn: sinh sản vô tính (Schizogony) và sinh sản hữu tính (Gametogony) được thực hiện trong tế bào biểu mô ruột (Endogenic), giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony) diễn ra ở bên ngoài cơ thể gà (Exogenic). h 5 Noãn nang cầu trùng được gà nuốt vào đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống.
Dưới tác dụng của men tiêu hoá trong dạ dày và ruột non, đặc biệt là men Trypsin, vỏ của noãn nang bị vỡ, giải phóng ra các bào tử con (Sporocyst). Sporozoit có hình thoi, dài 10 - 15µ, có một hạt nhân chui vào đỉnh các nhung mao ruột non, qua biểu mô, vào tuyến ruột. - Sinh sản vô tính (Schyzogonie). Sau khi xâm nhập vào tế bào biểu mô, Sporozoit sinh trưởng rất nhanh và trưởng thành với tên gọi Trophozoit chỉ sau vài giờ, nhân của Trophozoit phân chia và trở thành Schizont thế hệ I (thể phân liệt).
Schizont thế hệ I trưởng thành cũng rất nhanh, hình thành và chứa 8 - 120 nghìn Merozoit thế hệ I (kích thước 5 x 15µ) làm cho tế bào bị ký sinh trương to và vỡ Merozoit thoát ra khỏi Schizont, một số xâm nhập trở lại tế bào biểu mô để tiếp tục sinh sản vô tính và phá hủy tế bào biểu mô, một số sinh sản hữu tính.Các Schizont thế hệ II tiếp tục phát triển, giải phóng ra Merozoit lại lại xâm nhập phá hủy tế bào biểu mô lành.Quá trình sinh sản vô tính lặp đi lặp lại để để sinh ra các Schizont thế hệ III, IV. các tế bào biểu mổ bị phá hủy ngày càng nhiều. - Sinh sản hữu tính (Gametogonie). Ở giai đoạn sinh sản, các Schizont thế hệ II, III, IV… tạo ra thể Gamet có hình dạng giống Schizont.
Từ Gamet hình thành các Gametocyte đực và Gametocyte cái. Gametocyte đực phát triển, qua nhiều lần phân chia, tạo thành giao tử đực (hay tiểu phối tử) Macrogamet lMicrogametocyte hình thoi, có 2 lông roi, kích thước nhỏ, có khả năng di chuyển. Gametocyte cái phát triển thành giao tử cái (đại phối tử) Macrogamet lMacrogametocyte có kích thước lớn, một nhân, dự trữ nhiều chất dinh dưỡng, không di động.Nhờ 2 lông roi, giao tử đực di chuyển đến gặp và chui vào giao tử cái.Trong giao tử cái diễn ra quá trình đồng hoá nhân và nguyên sinh chất để tạo thành hợp tử. Hợp tử phân tiết một màng bao bọc bên ngoài và được gọi là noãn nang (Oocys).
Thời gian sinh sản vô tính kéo dài 3 - 22 ngày tuỳ loài cầu trùng, các Oocyst theo phân gà ra ngoài cơ thể ngoại cảnh. - Sinh sản bào tử (Sporogonie). Ở ngoài môi trường, gặp điều kiện thuận lợi, sau vài giờ, trong nguyên sinh chất của noãn nang đã xuất hiện khoảng sáng và h 6 phân chia. Sau 13 - 48 giờ, nguyên sinh chất hình thành 4 túi bào tử (Sporocyst).
Nguyên sinh chất của các túi bào tử lại phân chia tạo thành 2 bào tử con (Sporozoit). Như vậy, trong Oocyst có chứa 8 bào tử con, khi gà ăn vào trở thành Oocyst có sức gây bệnh cho gà. * Sức đề kháng của mầm bệnh. Định nghĩa: Sức đề kháng của mầm bệnh là khả năng chống lại các tác nhân của môitrường như ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng, môi trường nhân tạo, các dung dịch hóachất tác động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của chúng.