Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Sơ lược về cây ngô Cây ngô có tên khoa học là Zea mays L., ho Hoà thảo (Poaceae) có bộ rễ chùm, lá mọc thành hai dãy, gân lá song song, bọc lá chẻ dọc, có thìa lìa, mau đốt đặc, hoa mọc thành bông nhỏ có may. Ngô phân bố trên địa ban rat rộng từ vĩ độ 58° Bắc đến 38° Nam, ở độ cao 1m đến 3.620 m so với mặt biển, từ khí hậu vùng xích đạo nóng, mưa nhiều đến vùng lạnh ôn đới. Ngô được phân bồ trên địa bàn rộng như vậy nên qua chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo cũng đã tạo nên nhiều dạng khác nhau.
Ngô có hàm lượng dinh dưỡng cao so với các loại cây lương thực khác. Do ngô cung cấp nhiều năng lượng và có hàm lượng protide và lipid hơn hắn gạo nên toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực cho người. Từ cây ngô người ta đã sản xuất ra 670 mặt hàng khác nhau của các ngành dược, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm (Trần Thị Dạ Thảo, 2009). Theo Ngô Hữu Tình (2003), ngô là cây thức ăn gia súc quan trọng nhất hiện nay, chiếm 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp.
Ở các nước phát triển, phan lớn sản lượng ngô được dùng cho chăn nuôi: Mỹ 76%, Bồ Đào Nha 91%, Italia 93%, Trung Quốc 76%, Thái Lan 96%. Ngoài ra cây ngô còn dùng làm thức ăn xanh hoặc ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặc biệt là cho bò sữa. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là một trong ba cây lương thực lấy hạt quan trọng nhất trong nền nông nghiệp toàn cầu và được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới đem lại năng suất và sản lượng cao nhất trong các loại ngũ cốc.
Theo số liệu của Tô chức Lương thực va Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cho thấy diện tích, năng suất và sản lượng ngô tăng dần qua các năm từ 2017 — 2018. Năm 2018 sản lượng ngô trên thế giới là 1.147,6 triệu tấn với diện tích 193,7 triệu ha, năng suất 5,9 tan/ha (Bảng 1.Tình hình sản xuất ngô trên thé giới giai đoạn 2014 - 2018 Năm Diện tích (riệuha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tan) 2014 185,8 hi») 1.147,6 (FAOSTAT, 2020) Ngành san xuất ngô thé giới tăng liên tục từ dau thé kỷ 20 đến nay, nhất là trong hơn 40 năm gần đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu. Năm 2014, diện tích ngô toàn thế giới đạt 185,8 triệu ha, năng suất 5,5 tan/ha, đến năm 2018 diện tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 193,7 triệu ha. Nhìn chung sản lượng ngô thế giới tăng từ 1.039,2 triệu tan (năm 2014) đến 1.
Châu Mỹ là châu lục sản xuất ngô lớn nhất thế giới và là nơi đã ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật cũng như cơ giới hóa vào trong quá trình sản xuất ngô, diện tích ngô năm 2018 là 70,6 triệu ha; năng suất 8,2 tan/ha; sản lượng 578,9 triệu tấn (Bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của các châu lục năm 2018 Năng suất Châu lục Diện tích (triệu ha) (tán/ha) Sản lượng (triệu tấn) Châu Mỹ 70, 6 8.2 578,9 Châu Á 67,2 5,4 362,9 Chau Au 17,5 75 131,3 Chau Phi 38,7 2,0 71.4 Đông Nam Á 152 3,4 41,5 Châu Đại Dương 0,08 8,0 0,6 (FAOSTAT, 2020) Mỹ luôn là cường quốc số một về ngô, chiến vị trí thứ hai về diện tích và đứng đầu về sản lượng ngô, đồng thời cũng là một trong những nước có năng suất ngô cao nhất. Năm 2018, điện tích gieo trồng ngô ở Mỹ là 33,08 triệu ha với năng suất 11,86 tan/ha và dat sản lượng 392,4 triệu tấn (Bang 1. Năm 2018, Trung Quốc là nước đứng dau về diện tích trồng ngô và có sản lượng đứng thứ hai thế giới.
Diện tích trồng ngô ở Trung Quốc là 42,1 triệu ha với năng suất 6,1 tan/ha va sản luong 257,3 triéu tan. Dung thir ba vé dién tich trong ngô trên thé giới là Brazil với diện tích 16,1 triệu ha, năng suất 5,1 tân/ha và sản lượng 82,1 triệu tan (Bảng 1. Một số nước sản xuất ngô trên thế giới năm 2018 Quile gia Diện tích Năng suất Sản lượng š (triệu ha) (tắn/ha) (triệu tấn) Mỹ 33,1 11,9 392,4 Trung Quốc 42,1 6,1 257,3 Brazil 16,1 3. Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam Bảng 1.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (triệu ha) (tân/ha) (triệu tân) 2015 1,9 4,4 5,2 2016 12 4,6 53 2017 1,1 4,7 5,6 2018 1,0 4,7 4,8 2019 0,9 4,8 4,8 (Tổng cục thong kê, 2020) Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác.4 cho thấy tình hình sản xuất ngô của cả nước qua các năm giảm nhẹ về diện tích, nhưng năng suất tăng dần qua các năm: từ năm 2015 năng suất 4,4 tan/ha đạt sản lượng 5,2 triệu tan đến năm 2019 năng suất đạt 4,8 tan/ha. Việt Nam có 7 vùng trồng ngô chính là: Trung du và miền núi phía Bac, vùng Đồng bằng Sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Tình hình sản xuất ngô tại các vùng ở Việt Nam năm 2019 Ving Diện tích Nang suat San lượng (nghìn ha) (tân/ha) (nghìn tân) Trung du và miền núi phía Bắc 4351 3,9 1696,9 Tay Nguyén 209,3 5,8 1213,9 Bắc Trung bộ 109.2 4,5 489,6 Duyên hải Nam Trung bộ 13,2 5,0 368,6 Đông Nam bộ 63,3 6,6 4178 Đồng bằng Sông Hồng 70,0 5,1 357,0 Đồng bằng Sông Cửu Long 30,7 sỹ 175,0 (Tổng cục thông kê, 2020) Năm 2019, vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích ngô lớn nhất là 435,1 nghìn ha với sản lượng cao nhất cả nước đạt 1.696,9 nghìn tấn, kế đến là vùng Tây Nguyên có diện tích 209,3 nghìn ha với sản lượng 1.213,9 nghìn tấn (Bảng 1. Vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long có năng suất ngô cao nhất nước lần lượt là 6,6 tan/ha và 5,7 tan/ha.
Điều này cho thay sản xuất ngô ở hai vùng này rất được chú trọng phát triển, các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được áp dụng tốt, đặc biệt là về công tác giống. Tình hình sản xuất ngô vùng Tây Nguyên và Gia lai 1. Tình hình sản xuất ngô vùng ngô Tây Nguyên Tây Nguyên là một trong 7 vùng sản xuất ngô chính của cả nước, là vùng trồng ngô trọng điểm của Việt Nam với diện tích trồng khoảng 209,3 nghìn ha (Tổng cục thống kê, 2020), gồm các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lak , Đăk Nông, Lâm Đồng. Nhìn chung trong các tỉnh ở Tây Nguyên, Đăk Lăk có diện tích trồng và sản lượng ngô lớn nhất vùng với 94,2 nghìn ha san lượng đạt 574,6 nghìn tan năm 2019, tiếp đó là Đăk Nông có diện tích trồng ngô 54 nghìn ha và sản lượng đạt 351,0 nghìn tan năm 2019.
Kon Tum là tỉnh có diện tích 5,9 nghìn ha và sản lượng đạt thấp nhất 22,6 nghìn tắn năm 2019 (Bảng 1. Tình hình sản xuất ngô của các tỉnh Tây Nguyên năm 2018 - 2019 Diện tích (1000 ha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (1000 tan) Tỉnh 2018 2019 2018 2019 2018 2019 Dak Lak 96,9 94,2 5,8 6,1 569,6 574.6 Dak Nông 56,5 54,0 6,4 6,5 365,2 351,0 Gia Lai 46,2 46,7 4,5 4,7 209,1 219;5 Lâm Đồng 98 8,9 3515 53) 54,3 49,0 Kon Tum 5,9 335 4,1 4,1 24,5 22,6 (Tổng cục thong kê, 2020) 1. Tình hình sản xuất ngô ở Gia Lai và huyện Chư Prông Bảng 1. Tình hình sản xuất ngô ở Gia Lai giai đoạn 2016 - 2019 Năm Diện tích Năng suất San lượng (1000 ha) (tân/ha) (1000 tân) 2016 56,2 4,1 217,9 2017 47,4 4,4 211,5 2018 46,2 3,5 209,1 2019 46,7 4,7 219,5 (Tong cuc thong ké, 2020) Gia Lai là tinh thuộc Tây Nguyên, diện tích tự nhiên 15.494,9 km”, là tinh có diện tích canh tác ngô va sản lượng ngô lớn thứ ba ở Tây Nguyên, sau Dak Lak và Đăk Nông.
Trong những năm gần đây năng suất ngô tại Gia Lai vẫn không ngừng tăng lên từ năm 2016 là 4,1 tan/ha đến năm 2019 năng suất đạt 4,7 tan/ha, nhờ sử dụng các giống ngô lai mới trong sản xuất và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong quá trình canh tác. Cùng với sự phát triển ngô của cả tỉnh, ngô lai ở huyện Chư Prông trong những năm gan đây đã không ngừng phát triển. Diện tích tuy ôn định nhưng năng suất ngô tăng. Tình hình sản xuất ngô ở huyện Chư Prông giai đoạn 2017-2020 Năm Diện tích Năng suất Sản lượng (ha) (tạ/ha) (tan) 2017 5.8 cho thấy diện tích ngô của huyện Chu Prông ít biến động qua các năm 2017 - 2020.
Trong đó năm 2018 diện tích sản xuất cao nhất với 6. Năng suất trung bình của ngô lai tại huyện Chư Prông tương đối ôn định, tuy nhiên so với tiềm năng năng suất của các giống ngô vẫn còn thấp. Các giống ngô nông dân thường trồng là CP-888, BIOSEED9698, NK67, LVN10; khoảng cách gieo trồng thường là: 80 cm x 30 cm, bón phân ít hoặc không bón phân. Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống ngô lai trên thế giới và Việt Nam 1.
Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống ngô lai trên thế giới Vào nửa cuối thế ky 20, trong nền sản xuất lương thực của thế giới có một sự kiện rất quan trọng đó là sự nhảy vọt về năng suất của cây ngô. Sự phát triển đó là kết quả của việc khám phá, ứng dụng ưu thé lai vào sản xuất hạt giống ngô cùng với việc sử dụng những thành tựu về kỹ thuật canh tác và phân bón cho cây ngô. Năm 1966, Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT) được thành lập tại Mexico. Trong 30 năm hoạt động trung tâm đã đóng góp đáng ké vào việc xây dựng, phát triển, cải thiện vốn gen, quan thé và giống ngô cho 80 quốc gia trên thé giới (FAOSTAT, 2019).
Mỹ là nước tiễn hành nghiên cứu và áp dụng ưu thé lai cho cây ngô sớm và có hiệu quả nhất. Ngô lai bắt đầu được đưa vào sản xuất từ những năm đầu thập niên ba mươi của thé kỷ trước và phát triển mạnh vào những năm sau đó cho tới năm 1942 hầu hết diện tích ngô của Mỹ được trồng bằng giống lai. Hiện nay, Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới và 100% diện tích được trồng bằng ngô lai, trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn.