Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về cây vải 2. Nguồn gốc, phân loại vải 2. Nguồn gốc và sự phân bố cây vải Cây vải, tên khoa học Litchi chinenis Sonn.
(Nephelium Litchi Cambess), có xuất xứ được cho là nằm giữa vĩ độ 230 và 270 trong vùng cận nhiệt đới của miền Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ngày nay, vải được trồng nhiều ở các nước nằm trong phạm vi vĩ độ 200-300 Bắc và vùng cận nhiệt đới, việc di thực đến các vùng trồng khác được bắt đầu từ thế kỷ 17. Hơn 95% diện tích trồng vải trên thế giới nằm ở phía Bắc bán cầu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Thái Lan là những nước sản xuất chính. Ở phía Nam bán cầu, các nước có diện tích trồng vải tương đối nhiều là Madagascar, Nam Phi và Úc, Một số nước như Bangladesh, Philippines, Indonesia, Sri Lanka, Israel, Mỹ, Brazil, Mexico, Quần đảo Canary, Mauritius, Zimbabwe và Mozambique cũng có trồng vải nhưng diện tích và sản lượng ít hơn (Mitra và cs, 2010; Cronje, 2013).
Phân loại cây vải và các giống vải hiện cóa) Phân loại vải: Theo Hoàng Thị Sản (2003), Panday và cs (1989); Schaffer (1994), cây vải (Litchi chinensis Sonn.) thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae), bộ Bồ hòn (Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae). Họ Bồ hòn có trên 150 chi, với khoảng 2.000 loài được phân bố ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới, chủ yếu tập trung ở vùng Châu Á và một số ít loài thuộc Nam Mỹ, Châu Phi và châu Úc. Vải có 3 loài phụ: - Litchi chinensis: loài này tập trung các giống vải thương mại ngày nay có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc. Hiện tại, Trung Quốc có khoảng trên 6 100 giống trong đó có 15 giống thương mại quan trọng, Ấn Độ có khoảng trên 50 giống, Thái Lan trên 20 giống, Australia có trên 40 giống… (Bosse và cs, 2001).
- Litchi philippinensis: được trồng nhiều ở Philippines và Papua New Guinea trên những vùng núi cao, cây sinh trưởng tốt, tán lá rậm rạp mầu xanh sẫm, quả nhỏ hình ô van, vỏ quả dày, gai quả nhọn, hạt to dài, cùi chỉ là một lớp mỏng bao quanh hạt, ăn có vị chua và chát. - Litchi javenensis: loài phụ này có nguồn gốc từ Malay Peninsula, Indonesia, Trung Quốc, West Java và Đông Nam Á, có đặc điểm quả nhỏ, hạt to, gai dài và ăn có vị chua. Trong nghiên cứu nông học nói chung, người ta thường phân biệt kiểu gen của các loài dựa trên hệ thống các đặc điểm vế hình thái (Menzel và cs. Tuy nhiên, kiểu hình của cây bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường (Anuntalabhochai và cs., 2002), do đó, đặc điểm hình thái không phải lúc nào cũng là chỉ thị tốt để phân biệt kiểu gen.
Hơn nữa, có sự nhầm lẫn phổ biến ở những giống vải chỉ được xác định dựa vào các đặc điểm hình thái của chúng (Degani và cs. Bởi lẽ, ở những địa điểm khác nhau, cùng một giống có thể có tên gọi khác nhau và các giống khác nhau có thể có cùng tên. Điều này dẫn đến những khó khăn cho việc xác định giống chuẩn phục vụ cho công tác chọn tạo giống. Kết quả là, một số nghiên cứu đã sử dụng các chỉ thị phân tử để phân biệt kiểu gen ở loài vải (Viruel và cs, 2004; Liu và cs, 2005; Madhou và cs.
b) Các giống vải trên thế giới, Việt Nam: i) Giống vải trên thế giới: Người ta ước tính có khoảng 600 giống vải có sẵn trên thế giới. Trong đó hơn 400 giống vải có mặt ở Trung Quốc. 7 Dựa vào chất lượng quả, phân thành 2 nhóm: nhóm có cùi nhão ướt và nhóm có cùi ráo, khô. Dựa vào thời vụ thu hoạch, phân thành 3 nhóm: Nhóm chín sớm, nhóm chính vụ và nhóm chín muộn.
Dựa vào mục đích nghiên cứu, chọn giống, chia thành 3 nhóm: Nhóm giống thương mại, nhóm gen bản địa và nhóm có gen quý hiếm. Dẫn theo Mitra S.K và Pan J (2020), các giống vải trong nhóm thương mại do từng quốc gia căn cứ vào điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của mình để xác định và tập trung sản xuất với các chính sách thể chế ưu tiên riêng. Trong đó: Trung Quốc: Có hơn 400 giống được trồng trọt nhưng chỉ có khoảng hơn chục giống quan trọng đang được phát triển phục vụ mục tiêu mặt thương mại, trong đó tỉnh Quảng Đông có các giống: 'Baila', 'Baitangying', 'Heiye', 'Feizixiao', 'Guiwei', 'Numomici' và 'Huaizhi', tỉnh Hải Nam, Quảng Đông và Quảng Tây có 'Feizixiao' được trồng khá phổ biến, thời vụ thu hoạch kéo dài khoảng 70 ngày từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 7 (Chen và Huang, 2014). Ở tỉnh Phúc Kiến, giống 'Lanzhu' chiếm vai trò chủ đạo, được coi là giống quan trọng nhất trong sản xuất (Chen và Huang, 2000).
Ấn Độ: Có khoảng 50 giống đã được xác định, trong đó 'Shahi', 'Bombai', 'Trung Quốc', ‘Rose Scented’, 'Dehradun' ('Hoa hồng Dehra'), 'Muzaffarpur' và 'Calcutta' ('Calcuttia') là những giống có nhiều ưu thế (Mitra và Dutta, 2005). Giống phổ biến nhất ở bắc Bihar và Jharkhand là 'Shahi'. 'Bombai' quan trọng về mặt thương mại ở Tây Bengal trong khi 'Rose Scented' chủ yếu được trồng ở Uttarakhand và Uttar Pradesh. Úc: Các giống vải Úc bao gồm 'Bosworth 3' (B3) còn được gọi là 'Kwai Mai Pink', 'Tai So', 'Fay Zee Siu' ('Feizixiao'), 'Salathiel', 'Souey Tung', 'Wai Chee', 'Kaimana', 'Sah Keng', ….
Với sự ra đời của các giống cây đậu quả 8 sớm và muộn và các vùng sản xuất rộng rãi, được thu hoạch từ tháng 10 ở miền Bắc Queensland đến đầu tháng 4 ở miền Bắc New Phía Nam xứ Wales. Ở Nam Phi: Các giống trồng nổi bật là 'Mauritius' ('Tai So', 89,8%) và 'Mclean's Red' ('Madras', 6,4%). Các giống cây trồng khác là 'Third Month Red', 'Early Delight', 'Fay Zee Siu' ('Feizixiao') và 'Wai Chee' (Begemann, 2014). Madagascar: Mauritius là giống vải thương mại duy nhất được trồng ở Madagascar (Wermund và cs, 2014).
Ở Thái Lan: Các giống chính được trồng là Haak Yip, Taiso, Wai Chee (vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc với tên địa phương là Baidum, Hong Huey và Kim Cheng). Các giống vải trồng của Thái Lan được phân thành 2 nhóm:nhóm vải Nhiệt đới và nhóm vải Á nhiệt đới. Nhóm vải Nhiệt đới trồng có tính thương mại, thích hợp ở các tỉnh vùng miền Trung Thái Lan có các tháng mùa đông ấm áp. Có khoảng 20 giống thuộc nhóm này; nhóm vải Á nhiệt đới được trồng chủ yếu ở các tỉnh vùng Bắc Thái Lan nơi có mùa đông mát mẻ hơn.
Có khoảng 10 giống thuộc nhóm này. Giống Kom được coi là giống quan trọng của nhóm vải Nhiệt đới, giống Hong Huay là giống chủ đạo của vùng Á nhiệt đới (Anupunt và Sukhvibul, 2003), (Chinawat và Suranant, 2000). trình bày các giống vải chính được trồng ở các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới. Các giống vải chính trồng ở các nước Nước Giống Baila, Baitangying,Feizixiao, Heiye,Guiwei, Nuomici, Trung Quốc Huaizhi Ấn Độ Shahi, China, Bombai, Rose Scented, Bedana 9 Trang Cat, Yang Anh, Vai Do, Thiew Thank Ha, Phu Ho, Vietnam Wai Chee Khom, Cho Rakam, Haeo, Chin Lek, Hong Huai, Thái Lan Chakkraphat Kwai Mai Pink, Tai So, FayZeeSiu, Salathiel, WaiChee, Úc Kaimana Bangladesh Bombai, Muzaffarpur, Bedana, China 3 Indonesia Local selections Philipin Sinco, Tai So, ULPB Red Mauritius, McLean’s Red, Third Month Red, Early Nam Phi Delight, Wai Chee Mauritius, Hong Long, Brewster, Kaimana, Wai Chee, Israel Yellow Red Madagascar, Mauritius Mauritius và Reunion Florida, Hoa Kỳ Mauritius, Brewster Brazil Bengal ii) Giống vải ở Việt Nam: Ở Việt Nam, các tập đoàn nguồn gen vải được lữu giữ ở các cơ sở nghiên cứu miền Bắc (Viện Nghiên cứu Rau quả, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau hoa quả), có khoảng gần 40 giống các loại, bao gồm các nguồn gen thu thập trong nước và nhập nội.
Phân chia một cách tương đối theo thời gian thu hoạch quả, các giống vải nước ta có thể được phân thành 3 nhóm chính (Trần Thế Tục,1998): - Nhóm vải chín sớm: Bao gồm các giống vải có thời gian chín từ 5/5 đến 30/5 hàng năm trong điều kiện các tỉnh phía Bắc, Việt Nam. Đặc điểm 10 chung của nhóm vải này là: chùm hoa có phủ một lớp lông thưa màu nâu, khối lượng trung bình quả đạt 30 - 40g, tỷ lệ phần ăn được 65 - 72%, quả hình tim hay hình trứng, vỏ quả khi chín có màu xanh vàng hay đỏ sẫm, ăn có vị ngọt, hơi chua. Nhìn chung, các giống vải chin sớm thường có năng suất khá cao, có khả năng thích ứng rộng hơn các giống chính vụ và chín muộn. Một số giống thuộc nhóm này là: Hùng Long, Yên Hưng, Yên Phú, Phúc Hoà, Bình Khê.
- Nhóm vải chính vụ: là các giống vải có thời gian chín tập trung trong khoảng từ 1/6 đến 30/6 trong điều kiện các tỉnh phía Bắc, Việt Nam với một số đặc trưng: chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng, khối lượng quả trung bình đạt 18 - 25g, tỷ lệ phần ăn được 68 - 82%, quả hình cầu, vỏ quả khi chín có màu đỏ tươi, ăn có vị ngọt thanh, cùi ráo, vị thơm, năng suất khá cao, ổn định. Các giống thuộc nhóm này là: Thiều Thanh Hà, Thiều Phú Hộ, Thiều Lục Ngạn. - Nhóm vải chín muộn: Cho đến hiện tại, nước ta chưa có giống vải chính muộn mà chỉ mới phát hiện được một số dòng có thời gian chín trong khoảng thời gian từ 30/6 đến 10/7 trong điều kiện các tỉnh phía Bắc, Việt Nam. Một số đặc điểm nổi bật của các dòng này là: chùm hoa có phủ lớp lông thưa, màu trắng, khối lượng quả trung bình đạt từ 25 - 35g, tỷ lệ phần ăn được đạt 66 - 75%, quả hình tim hoặc hình cầu, vỏ quả khi chín có màu đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, vị ngọt, năng suất đạt xấp xỉ các giống vải chính vụ, ít có hiện tượng ra quả cách năm.
Các dòng vải thuộc nhóm này chủ yếu được phát hiện tại Thanh Hà (Hải Dương) và Lục Ngạn (Bắc Giang). iii) Giống vải chín sớm PH40: Giống vải chín sớm PH40, được chọn lọc qua sản xuất, nhiều khả năng là một biến chủng của giống vải Thiều Phú Hộ trồng từ hạt tại xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Giống sinh trưởng rất khỏe, quả hình tim, màu đỏ 11 nhung, khối lượng quả lớn (50 – 55 g/quả), năng suất trung bình 19,5 tấn/ha, chất lượng tốt và đặc biệt là thời gian thu quả sớm hơn đáng kể so với giống Phú Hộ ban đầu (15 – 25/5). Nhược điểm của giống vải PH40: ra hoa đậu quả chưa ổn định ở các năm có điều kiện thời tiết không thuận lợi (nắng ấm hoặc mưa nhiều về mùa Thu và mùa Đông).
Tuy nhiên, có thể khắc phục bằng cách tác động các biện pháp kỹ thuật hợp lý.