Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ngô (Zea mays L.) là cây ngũ cốc quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp toàn cầu, đóng vai trò nguồn lương thực nuôi sống một phần ba dân số thế giới. Tại Việt Nam, ngô là cây màu số một và là cây lương thực đứng thứ hai sau lúa nước. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2021 cả nước đạt diện tích canh tác ngô 902,8 nghìn hecta, năng suất bình quân 49,3 tạ/ha và tổng sản lượng đạt 4.446,4 nghìn tấn. Phần lớn diện tích ngô tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi vẫn được canh tác theo phương thức nương rẫy, phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời và đóng vai trò nguồn sinh kế trực tiếp của các hộ gia đình.

Mặc dù Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên di truyền thực vật phong phú, quá trình thâm canh nông nghiệp cùng sự mở rộng nhanh chóng của các giống ngô lai thương mại có năng suất cao nhưng nền di truyền hẹp đang dẫn tới hiện tượng xói mòn nguồn gen nghiêm trọng. Các giống ngô địa phương canh tác lâu đời đang đối mặt với nguy cơ lẫn dòng, thoái hóa giống, suy giảm năng suất và dễ bị tổn thương trước thiên tai, hạn hán. Để ngăn chặn nguy cơ mất đi các kiểu hình thích nghi đặc thù và phẩm chất quý của nguồn gen bản địa, công tác thu thập, khảo sát và đánh giá nông sinh học các giống ngô địa phương là nhiệm vụ cấp bách nhằm tạo nguồn vật liệu cho chọn tạo giống và phục tráng.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  • Đánh giá đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, phát triển và các yếu tố cấu thành năng suất của tập đoàn giống ngô bản địa trong điều kiện vụ Đông.
  • Lựa chọn các giống ngô bản địa có triển vọng, sinh trưởng phát triển tốt nhằm cung cấp nguồn vật liệu khởi đầu phục vụ công tác phục tráng và lai tạo giống ngô mới.

Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 4 nội dung chính:

  1. Phân tích điều kiện khí hậu, thời tiết tại điểm nghiên cứu trong thời gian thực hiện đề tài vụ Đông năm 2022.
  2. Nghiên cứu, mô tả 19 tính trạng đặc điểm hình thái của tập đoàn các giống ngô bản địa.
  3. Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh, đổ gãy và năng suất của các giống ngô tại điểm nghiên cứu.
  4. Lựa chọn các giống ngô bản địa ưu tú, có khả năng thích nghi và chất lượng tốt phục vụ mục đích phục tráng và chọn tạo giống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tập đoàn gồm 14 giống ngô, trong đó có 13 giống ngô bản địa thu thập từ các cộng đồng dân tộc Mông, Dao, Thái thuộc các tỉnh Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Điện Biên (ký hiệu từ N1 đến N13) và 01 giống ngô lai LVN10 của Viện Nghiên cứu Ngô làm đối chứng (ký hiệu N14).
  • Phạm vi thời gian: Vụ Đông năm 2022 (từ cuối tháng 8/2022 đến tháng 12/2022).
  • Phạm vi không gian: Khu thực nghiệm Vườn ươm, Trường Đại học Lâm nghiệp, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cây ngô (Zea mays L.) thuộc họ Hòa thảo (Poaceae), tộc Maydeae (Trisaceae). Căn cứ cấu trúc nội nhũ hạt, cây ngô được phân loại thành các loài phụ chính gồm: ngô đá (Zea mays subsp. indurata Sturt), ngô răng ngựa (subsp. indentata Sturt), ngô nếp (subsp. ceratina Kulesh), ngô đường (subsp. saccharata Sturt), ngô nổ (subsp. everta Sturt), ngô bột (subsp. amylacea Sturt) và ngô bọc (subsp. tunecata Sturt). Về mặt nông sinh học, ngô là cây ưa nóng với tổng tích ôn giao động từ 1.700 đến 3.700°C tùy giống; tại miền Bắc Việt Nam, tổng tích ôn vụ Đông Xuân cần từ 2.000 đến 3.100°C. Ngô thuộc nhóm thực vật ngày ngắn, có nhu cầu nước trung bình từ 100 đến 220 lít nước cho một chu kỳ sống của một cây.

Cơ sở chọn tạo giống ngô dựa trên nguyên lý chọn giống thụ phấn tự do (giống địa phương, giống tổng hợp, giống hỗn hợp), tận dụng ưu thế lai (hiệu quả giảm dần theo thứ tự: lai đơn > lai ba > lai kép > lai tổng hợp) và ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử như chỉ thị phân tử RAPD, SSR, RFLP cùng kỹ thuật chuyển gen vi khuẩn Agrobacterium.

Khung tiêu chuẩn khảo nghiệm được tác giả áp dụng thống nhất theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 13382-2:2021 ("Giống cây trồng nông nghiệp - Khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng - Phần 2: Giống Ngô") và quy chuẩn khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định (DUS).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và bố trí thí nghiệm:

  • Thí nghiệm bố trí theo phương pháp khảo sát tập đoàn, tuần tự không lặp lại; mỗi giống tương ứng một công thức khảo nghiệm. Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10 m², tổng diện tích thí nghiệm 140 m² (chưa bao gồm dải bảo vệ).
  • Khoảng cách và mật độ gieo trồng: Mật độ hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 25 cm. Gieo 2 hạt/hốc ở độ sâu 3-4 cm, tiến hành tỉa định cây 2 lần (lần 1 ở giai đoạn 3-4 lá, lần 2 ở giai đoạn 5-6 lá), giữ lại mật độ chuẩn 1 cây/hốc.
  • Quy trình bón phân áp dụng cho 1 hecta gồm: Phân hữu cơ vi sinh TP03 (1.000 kg/ha, tương ứng 14,0 kg/ô bón lót toàn bộ); Phân đạm Urê (190 kg/ha, chia bón thúc lần 1 lúc 4-5 lá là 1,3 kg/ô và thúc lần 2 lúc 8-9 lá là 1,3 kg/ô); Phân Super Lân (90 kg/ha, bón lót toàn bộ 1,3 kg/ô); Phân Kali (100 kg/ha, chia đều cho hai lần bón thúc, mỗi lần 0,7 kg/ô).
  • Hệ thống chỉ tiêu theo dõi: 19 tính trạng hình thái lá, thân, cờ, bắp theo TCVN 13382-2:2021; thời gian sinh trưởng qua các mốc (ngày mọc, trỗ cờ, phun râu, chín sinh lý); động thái tăng trưởng chiều cao cây và ra lá (đo định kỳ 10 ngày/lần); các đặc trưng sinh trưởng (chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, tỷ lệ CĐB/CCC, đường kính lóng gốc); chỉ tiêu cảm quan chất lượng thử nếm luộc nhóm ngô nếp (thang điểm 1-5 về độ dẻo, hương thơm, vị đậm, độ ngọt); theo dõi mức độ nhiễm sâu bệnh hại (sâu keo mùa thu, sâu đục thân, sâu đục bắp, bệnh đốm lá lớn, đốm lá nhỏ, gỉ sắt theo thang điểm 1-5); khả năng chống đổ (đổ rễ, gãy thân); các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết, năng suất thực thu.
  • Nguồn số liệu và phân tích dữ liệu: Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp tại thực địa trên 10 cây mẫu ngẫu nhiên mỗi ô; số liệu khí tượng lấy từ Trạm Khí tượng Thủy văn Trường Đại học Lâm nghiệp. Dữ liệu được xử lý và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel 2016 và Microsoft Word.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Tác giả nêu bật vai trò chiến lược của cây ngô trong cơ cấu cây lương thực và an ninh lương thực quốc gia. Phân tích chỉ ra nghịch lý: trong khi năng suất ngô cả nước tăng nhẹ từ 43,1 tạ/ha (năm 2011) lên 49,3 tạ/ha (năm 2021), diện tích ngô lại giảm sút từ 1.126,4 nghìn ha xuống 902,8 nghìn ha, buộc Việt Nam phải nhập khẩu tới 500.000 tấn ngô hạt trong riêng tháng 7 năm 2022 với kim ngạch 191,7 triệu USD. Tại các vùng núi cao phía Bắc, ngô bản địa đóng vai trò di sản sống của đồng bào dân tộc thiểu số nhưng đang bị thu hẹp diện tích do sự lấn át của các giống lai thương phẩm. Từ thực tế này, sinh viên xác định sự cần thiết của việc khảo sát tập đoàn giống ngô bản địa tại Xuân Mai nhằm tìm kiếm nguồn vật liệu chọn giống mới.

Phần II: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương tổng quan hệ thống hóa cơ sở khoa học và thực tiễn từ nguồn gốc cây ngô tại Mexico đến các trung tâm bảo tồn tài nguyên di truyền toàn cầu. Tác giả tổng hợp dữ liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO): năm 2021, sản lượng ngô toàn cầu đạt 1.162,99 triệu tấn trên diện tích 205,9 triệu ha, trong đó châu Mỹ dẫn đầu với năng suất 78,1 tạ/ha và sản lượng 592,4 triệu tấn, châu Á đạt 278,9 triệu tấn (năng suất 55,9 tạ/ha), châu Âu đạt 141,8 triệu tấn (năng suất 72,0 tạ/ha) và châu Phi đạt 96,6 triệu tấn (năng suất 22,8 tạ/ha).

Tại Việt Nam, sản xuất phân bố không đều: vùng Trung du miền núi phía Bắc có diện tích lớn nhất với 414,4 nghìn ha (năm 2021) nhưng năng suất thấp nhất cả nước, chỉ đạt 40,9 tạ/ha; vùng Đông Nam Bộ có năng suất cao nhất đạt 71,4 tạ/ha trên diện tích 54,7 nghìn ha; vùng Tây Nguyên đạt 172,9 nghìn ha với năng suất 59,9 tạ/ha. Về mặt học thuật, tác giả tổng lược các công trình đánh giá nguồn gen bản địa bằng chỉ thị SSR, RAPD trên thế giới (Belalia tại Sahara, Nelimor tại Tây Phi, Carvalho tại Brazil, Alvarado-Beltrán tại Mexico, Kizilgeci tại Thổ Nhĩ Kỳ) và Việt Nam (công trình của Ngô Hữu Tình, Vũ Văn Liết, Kiều Xuân Đàm, Vũ Đăng Toàn, Nguyễn Văn Trường), khẳng định nguồn gen ngô bản địa vùng núi phía Bắc Việt Nam chứa đựng biến dị phong phú về tính thích nghi và chất lượng thực phẩm.

Phần III: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này cung cấp danh mục chi tiết 14 giống ngô tham gia thí nghiệm cùng nguồn gốc xuất xứ cụ thể:

Ký hiệu Tên thường gọi Nhóm dân tộc Địa bàn thu thập (Xã, Huyện, Tỉnh)
N1 Pâu mỉ đà Mông Chiếu Phố, Hoàng Su Phì, Hà Giang
N2 Pâu mỉ tơ Mông Chiếu Phố, Hoàng Su Phì, Hà Giang
N3 Po cừ lia Mông Lóng Luông, Vân Hồ, Sơn La
N4 Po cừ clơ Mông Tà Xùa, Bắc Yên, Sơn La
N5 Mẹ bụt Dao Ma Quai, Sìn Hồ, Lai Châu
N6 Po cừ la Mông Chế Tạo, Mù Cang Chải, Yên Bái
N7 Po cừ blâu Mông Chế Tạo, Mù Cang Chải, Yên Bái
N8 Mệ trị pẹ Dao Nà Hỳ, Nậm Pồ, Điện Biên
N9 Khẩu lí ón đăm Thái Phìn Hồ, Nậm Pồ, Điện Biên
N10 Khẩu lí ón Thái Phìn Hồ, Nậm Pồ, Điện Biên
N11 Khẩu li sam bơn Thái Mường Tùng, Mường Chà, Điện Biên
N12 Khẩu li lơng Thái Mường Tùng, Mường Chà, Điện Biên
N13 Um té Mông Quảng Lâm, Mường Nhé, Điện Biên
N14 (đ/c) LVN10 - Viện Nghiên cứu Ngô

Phần này quy định chi tiết kỹ thuật canh tác theo TCVN 13382-2:2021, kỹ thuật bón phân cân đối, thang điểm đánh giá cảm quan 4 chỉ tiêu chất lượng nếm ngô nếp (độ dẻo, độ thơm, vị đậm, độ ngọt) và công thức tính toán năng suất lý thuyết (dựa trên số cây/m², số bắp hữu hiệu, số hàng/bắp, số hạt/hàng, khối lượng 1000 hạt) cùng năng suất thực thu quy chuẩn về độ ẩm 14%.

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả tập trung các dữ liệu thực nghiệm quan trọng tại trạm nghiên cứu:

  • Điều kiện khí tượng: Giai đoạn nghiên cứu từ cuối tháng 8 đến hết tháng 12 năm 2022 có diễn biến nhiệt độ trung bình từ 15,8°C (tháng 12) đến 28,7°C (giai đoạn 21-31/8); độ ẩm không khí trung bình dao động từ 65,6% đến 79,4%; tổng lượng mưa cao nhất vào tháng 9 (261,1 mm) và giảm mạnh vào tháng 12 (16,1 mm). Điều kiện này đáp ứng tốt nhu cầu sinh thái của cây ngô vụ Đông.
  • Đặc điểm hình thái: Phân tích 19 tính trạng cho thấy sự sai khác rõ rệt giữa các mẫu giống. Sắc tố antoxian ở bẹ lá thứ nhất chia làm ba mức (nhạt ở N1-N4; trung bình ở N6-N13; đậm ở N5 và rất đậm ở N14). Màu sắc hạt phản ánh sự phân hóa đa dạng gồm nhóm hạt vàng (N1, N8, N13), tím nâu (N2, N3, N6), trắng (N4, N7, N10), trắng tím (N5, N9, N11), trắng vàng (N12) và vàng cam (N14 đối chứng). Dạng hạt tập trung ở nhóm bán đá (7 giống), hạt đá (5 giống) và bán răng ngựa (1 giống N4).
  • Phân nhóm sử dụng và đánh giá chất lượng thử nếm: Tập đoàn được phân chia thành 9 giống ngô tẻ (N1, N2, N3, N4, N6, N7, N8, N13, N14) dùng cho chế biến thức ăn, nấu rượu hoặc mèn mén và 5 giống ngô nếp (N5, N9, N10, N11, N12) sử dụng ăn tươi. Đánh giá thử nếm luộc trên 5 giống ngô nếp ghi nhận:
Chỉ tiêu nếm N5 (Mẹ bụt) N9 (Khẩu lí ón đăm) N10 (Khẩu lí ón) N11 (Khẩu li sam bơn) N12 (Khẩu li lơng)
Độ dẻo 3 (Hơi dẻo) 2 (Dẻo TB) 2 (Dẻo TB) 2 (Dẻo TB) 1 (Rất dẻo)
Hương thơm 2 (Thơm) 2 (Thơm) 2 (Thơm) 2 (Thơm) 1 (Rất thơm)
Vị đậm 2 (Đậm) 3 (Đậm vừa) 1 (Rất đậm) 2 (Đậm) 2 (Đậm)
Độ ngọt 2 (Ngọt) 2 (Ngọt) 2 (Ngọt) 1 (Rất ngọt) 1 (Rất ngọt)

Giống N12 (Khẩu li lơng) đạt phẩm chất vượt trội nhất với điểm số tối ưu ở ba tiêu chí (độ dẻo đạt điểm 1, hương thơm đạt điểm 1, độ ngọt đạt điểm 1).

  • Thời gian sinh trưởng và phát triển: Thời gian gieo đến mọc mầm dao động 4-5 ngày (9 giống mọc sau 4 ngày; 5 giống mọc sau 5 ngày). Thời gian trỗ cờ biến động từ 45 đến 61 ngày; trong đó giống N10 trỗ sớm nhất (45 ngày), giống đối chứng LVN10 trỗ muộn nhất (61 ngày). Thời gian phun râu dao động từ 46 đến 64 ngày (N10 sớm nhất với 46 ngày; LVN10 muộn nhất với 64 ngày). Tổng thời gian sinh trưởng của tập đoàn dao động từ 98 đến 127 ngày: nhóm chín sớm nhất là N11 (98 ngày), N10 (100 ngày), N9 (107 ngày), N12 (110 ngày); nhóm trung bình gồm N5 (116 ngày), N4 (118 ngày), LVN10 (121 ngày), N8 (122 ngày), N6 (123 ngày); nhóm dài ngày gồm N7 và N13 (125 ngày), N2 (126 ngày), dài nhất là N1 và N3 (127 ngày).

Phần V: Kết luận, kiến nghị

Tác giả tổng kết việc phân lập thành công các nhóm hình thái và sinh trưởng của 13 nguồn gen ngô bản địa trong điều kiện sinh thái Xuân Mai, xác định các mẫu giống ngô nếp có chất lượng ăn tươi nổi bật (đặc biệt là N12) và các giống ngô tẻ có thời gian sinh trưởng linh hoạt phục vụ mục tiêu chọn giống tiếp theo. Kiến nghị duy trì mạng lưới bảo tồn tại chỗ kết hợp với các chương trình chọn lọc dòng thuần.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể:

  • Xác định phổ thời gian sinh trưởng của tập đoàn ngô bản địa trong vụ Đông dao động trong biên độ rộng từ 98 đến 127 ngày. Trong đó xuất hiện các nguồn gen chín cực sớm như N11 (98 ngày) và N10 (100 ngày), ngắn hơn đáng kể so với giống đối chứng thương phẩm LVN10 (121 ngày).
  • Định hình 19 tính trạng hình thái chuẩn DUS cho 13 giống bản địa vùng cao; phân tách rõ ràng 9 giống ngô tẻ và 5 giống ngô nếp.
  • Phát hiện giống ngô nếp N12 (Khẩu li lơng thu thập tại Mường Tùng, Mường Chà, Điện Biên) sở hữu các đặc tính thử nếm luộc vượt trội, đạt điểm 1 tuyệt đối ở ba chỉ tiêu chất lượng cảm quan gồm độ dẻo (rất dẻo), mùi thơm (rất thơm) và độ ngọt (rất ngọt).
  • Đóng góp khoa học của đề tài thể hiện ở việc trực tiếp bổ sung dữ liệu khảo nghiệm nông sinh học thực địa cho tập đoàn nguồn gen ngô bản địa thu thập từ các cộng đồng dân tộc Mông, Dao, Thái thuộc 5 tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Điện Biên) tại tiểu vùng chuyển tiếp sinh thái Xuân Mai - Hà Nội. Dữ liệu này cung cấp luận cứ thực nghiệm giá trị cho công tác tuyển chọn vật liệu phục tráng và lai tạo giống ngô chống chịu, thích ứng biến đổi khí hậu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thí nghiệm được thực hiện gói gọn trong phạm vi một vụ duy nhất (vụ Đông năm 2022) tại một điểm nghiên cứu (thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội).
  • Phương pháp khảo nghiệm tập đoàn áp dụng tuần tự không nhắc lại trên ô 10 m², phù hợp cho việc đánh giá sơ bộ số lượng mẫu giống lớn nhưng tính đại diện thống kê về mặt sai số ngẫu nhiên qua các năm chưa cao.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Khảo nghiệm lặp lại các giống ngô bản địa triển vọng qua các vụ gieo trồng khác nhau (vụ Xuân, vụ Hè Thu) và mở rộng địa bàn khảo nghiệm ra các vùng sinh thái lân cận để xác định tính ổn định di truyền của các tính trạng nông học.
  • Ứng dụng các chỉ thị phân tử (như SSR, RAPD) để giám định độ thuần và phân tích cấu trúc đa dạng di truyền ở mức độ phân tử đối với các giống ưu tú đã lựa chọn như N10, N11, N12.
  • Triển khai công tác tự phối, rút dòng thuần từ các mẫu giống triển vọng nhằm phục vụ tạo dòng bố mẹ cho chương trình lai tạo ngô nếp và ngô tẻ chất lượng cao.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Quản lý tài nguyên di truyền thực vật, Công nghệ sinh học nông nghiệp.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các trung tâm khuyến nông, viện nghiên cứu cây lương thực thực hiện công tác bảo tồn nguồn gen bản địa và chọn tạo giống cây trồng vùng cao.
  • Giá trị tham khảo thực tiễn cao nhất nằm ở bảng mô tả chi tiết 19 chỉ tiêu hình thái theo tiêu chuẩn TCVN 13382-2:2021, phương pháp đánh giá cảm quan nếm luộc ngô nếp và bộ dữ liệu gốc về thời gian các pha sinh trưởng của các giống ngô địa phương vùng Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Thí nghiệm khảo nghiệm bao nhiêu giống ngô và nguồn gốc thu thập cụ thể từ đâu?
Nghiên cứu khảo sát 14 giống ngô, gồm 13 giống ngô bản địa (ký hiệu N1 đến N13) thu thập từ các cộng đồng dân tộc Mông, Dao, Thái tại 5 tỉnh phía Bắc gồm Hà Giang (xã Chiếu Phố, huyện Hoàng Su Phì), Sơn La (xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ; xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên), Lai Châu (xã Ma Quai, huyện Sìn Hồ), Yên Bái (xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải), Điện Biên (xã Nà Hỳ và Phìn Hồ, huyện Nậm Pồ; xã Mường Tùng, huyện Mường Chà; xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé) và 01 giống đối chứng LVN10 từ Viện Nghiên cứu Ngô.

2. Thời gian sinh trưởng của các giống ngô bản địa biến động ra sao so với giống đối chứng LVN10?
Tổng thời gian sinh trưởng của các giống bản địa dao động từ 98 đến 127 ngày. Trong đó, bốn giống ngô nếp gồm N11 (98 ngày), N10 (100 ngày), N9 (107 ngày) và N12 (110 ngày) cùng giống ngô tẻ N4 (118 ngày) và N5 (116 ngày) có thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống đối chứng thương mại LVN10 (121 ngày). Hai giống có thời gian sinh trưởng dài nhất là N1 và N3 (127 ngày).

3. Giống ngô nếp nào đạt chất lượng ăn tươi cao nhất qua đánh giá thử nếm?
Giống ngô nếp N12 (tên thường gọi Khẩu li lơng của dân tộc Thái, thu thập tại xã Mường Tùng, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên) đạt chất lượng thử nếm luộc cao nhất trong 5 giống ngô nếp, nhận điểm 1 tuyệt đối ở cả ba chỉ tiêu độ dẻo (rất dẻo), hương thơm (rất thơm), độ ngọt (rất ngọt) và đạt điểm 2 ở chỉ tiêu vị đậm (đậm).

4. Kỹ thuật bón phân trong thí nghiệm được tác giả quy định cụ thể như thế nào?
Mức phân bón cho 1 hecta gồm 1.000 kg phân hữu cơ TP03, 190 kg phân Urê, 90 kg phân Super Lân và 100 kg phân Kali. Quy trình bón chia làm 3 đợt: bón lót toàn bộ hữu cơ và lân; bón thúc đợt 1 khi cây đạt 4-5 lá (1/2 lượng đạm + 1/2 lượng kali); bón thúc đợt 2 khi cây đạt 8-9 lá kết hợp vun cao chống đổ (1/2 lượng đạm + 1/2 lượng kali còn lại).

5. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp nào và quy mô diện tích ra sao?
Đề tài áp dụng phương pháp khảo sát các tập đoàn, bố trí tuần tự không nhắc lại với 14 công thức tương ứng 14 giống ngô. Mỗi ô thí nghiệm có diện tích 10 m² gieo theo mật độ khoảng cách 70 x 25 cm, tổng diện tích khu thí nghiệm là 140 m² không tính diện tích dải bảo vệ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lò Văn Huỳnh đã thực hiện khảo nghiệm nông học trên 13 giống ngô bản địa vùng núi phía Bắc và 01 giống đối chứng LVN10 tại thị trấn Xuân Mai trong điều kiện vụ Đông năm 2022. Nghiên cứu đã mô tả hệ thống 19 tính trạng hình thái thực vật, xác định phổ thời gian sinh trưởng từ 98 đến 127 ngày và phân tách rõ ràng giá trị sử dụng giữa 9 giống ngô tẻ và 5 giống ngô nếp. Đặc biệt, đề tài đã phát hiện được các nguồn gen có tiềm năng phẩm chất vượt trội như giống ngô nếp N12 (rất dẻo, rất thơm, rất ngọt) và giống chín sớm N11 (98 ngày), tạo tiền đề vật liệu khởi đầu xác thực cho công tác chọn tạo và phục tráng giống ngô thích ứng tại Việt Nam.