MỞ ĐẦU Hiện nay, lúa lai đã trở nên không thể thiếu được trong cơ cấu giống cây trồng ở Việt Nam, lúa lai đã đóng góp không nhỏ vào gia tăng sản lượng lương thực Quốc gia bảo đảm an ninh lương thực. Diện tích lúa lai trong những năm gần đây không tăng mà còn có phần giảm, nguyên nhân hạn chế chủ yếu là lúa lai hiện nay chưa kháng được bệnh bạc lá. Ở Việt Nam, bệnh bạc lá thật sự gây tác hại, nó làm giảm năng suất từ 30- 60% [15], Trường Đại học NN1,[14] Viện Bảo vệ Thực vât, Viện DTNN, đã thu thập, phân lập được nhiều nòi bạc lá khác nhau từ nước ngoài và các nòi mới được phân lập trong nước. Kết quả đánh giá thử nghiệm của các viện, trường, cho thấy có 3 gen kháng được phần lớn các nòi miền Bắc Việt Nam là xa5, Xa7 và Xa21, tuy nhiên hiện nay một số gen như Xa21 vẫn kháng được nhiều nòi bạc lá khác nhau nhưng mức độ kháng đã giảm đáng kể, vì vậy muốn tăng cường khả năng kháng bệnh bền vững cần phải quy tụ nhiều gen kháng vào một giống lúa.
Bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo, chỉ có thể có kết luận, cá thể này kháng bệnh bạc lá, cá thể khác không kháng hoặc kháng nhiều, kháng ít, khó có thể biết được các thể nào mang 1 gen kháng, cá thể khác mang hai hay nhiều gen là những gen nào. Nhờ chỉ thị phân tử, không những có thể xác định nhanh chóng, chính xác những cá thể mang một hay nhiều gen mà là những gen nào để định hướng chọn giống kháng bền với bệnh bạc lá. 2 Viện lúa quốc tế đã quy tụ được những gen kháng bệnh bạc lá khác nhau vào các giống từ IRBB1 đến IRBB 63 trong đó có giống có tới 3 hoặc 4 gen vì vậy việc sử dụng vật liệu quy tụ của IRRI kết hợp với chỉ thị phân tử để quy tụ vào các giống lúa [28] khác nhau là hoàn toàn có thể được trong điều kiện Việt Nam. Dòng IRBB 62 mang 3 gen trội Xa4, Xa7, Xa21 kháng rất tốt với các nòi bạc lá của Việt Nam liên kết với các chỉ thị phân tử MP1- MP2, P3, pTA248 vì vậy việc sử dụng dòng này làm vật liệu để lai quy tụ vào các giống lúa khác nhau là rất tiện lợi.
Các nhà khoa học Thái Lan đã sử dụng thành công MAS và phương pháp nuôi cấy bao phấn lúa để quy tụ gen kháng bạc lá Xa21 và gen chịu úng SUB1 vào giống lúa KDML 105 (Khao Dak Mali). Đối với lúa lai do sử dụng hiệu ứng trội và siêu trội là chính nên những vật liệu, dòng, giống có chứa gen trội rất có ý nghĩa trong công tác chọn tạo giống lúa lai kháng bệnh bạc lá. Nếu ta quy tụ được hai gen Xa7 và Xa21 vào dòng mẹ TGMS và các dòng bố khác nhau sau đó sử dụng chúng trong sản xuất lúa lai thì có thể tạo được tổ hợp lai kháng được bệnh bạc lá[14]. Tuy vậy, các giống lúa lai chủ yếu vẫn nhập nội từ Trung Quốc và là lúa lai hệ ba dòng nên năng suất bị hạn chế.
Muốn có ưu thế lai cao cần các tổ hợp giữa các phân loài phụ Indica/ Japonica, xong khi lai xa con lai thường bị lép do không tương thích giữa dòng bố và mẹ. Để có được lúa lai cao sản cần phải lai xa giữa các phân loài phụ và dòng bố hoặc mẹ phải có gen tương hợp rộng S5n. Dòng mẹ PA64S mang gen tương hợp rộng S5n liên kết với chỉ thị phân tử RM225 và RM253 đồng thời mang gen bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ có thể sử dụng làm vật liệu cho chọn tạo dòng bố mẹ mang gen tương hợp rộng. Phương pháp nuôi cấy bao phấn là một phương pháp đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới và là một phương pháp rất tiện lợi 3 giúp nhanh chóng tạo dòng đơn bội kép.
Đặc biệt, sử dụng phương pháp này rút ngắn thời gian chọn dòng TGMS từ 5-6 năm ở điều kiện thường xuống chỉ còn 1-2 năm và không phải phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Muốn mở rộng diện tích lúa lai cần chọn tạo lúa lai hai dòng kháng bệnh bạc lá và trước hết phải chọn tạo dòng bố, mẹ kháng bệnh bạc lá vì vậy chúng tôi chọn hướng nghiên cứu “Chọn tạo lúa lai hai dòng kháng bệnh bạc lá bằng CNSH (nuôi cấy đơn bội, chỉ thị phân tử) kết hợp với phương pháp thông thường” là khoa học và có ý nghĩa thực tiễn cao. Mục tiêu của đề tài - Làm chủ được công nghệ tạo dòng bố, mẹ mang gen tương hợp rộng và gen kháng bệnh bạc lá. - Tạo được 2-3 dòng bố, 1-2 dòng mẹ ngắn ngày mang gen tương hợp rộng và gen kháng bệnh bạc lá.
- Chọn được 1-2 tổ hợp lúa lai hai dòng kháng bệnh bạc lá có triển vọng. Đối tượng nghiên cứu Kế thừa một số vật liệu của đề tài “nghiên cứu chọn tạo giống lúa thuần kháng bệnh bạc lá bằng chỉ thị phân tử”. Đối tượng nghiên cứu là những dòng bố, mẹ lúa lai hai dòng, gen kháng bệnh bạc lá Xa7, Xa21 và gen tương hợp rộng S5n. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu chọn tạo dòng bố, mẹ lúa lai hai dòng kháng bệnh bạc lá, sử dụng những công nghệ nuôi cấy bao phấn, chỉ thị phân tử kết hợp với phương pháp lai truyền thống nên rút ngắn được thời gian.
Dòng bố, mẹ có gen kháng bệnh bạc lá trội Xa7, Xa21 sẽ dễ tạo được lúa lai kháng bệnh bạc lá nên mang tính ứng dụng cao. 4 Tính cấp thiết Hiện nay, lúa lai nhiễm bệnh bạc lá nên khó mở rộng diện tích. Lý do chủ yếu là chưa tạo được dòng bố, mẹ mang gen trội Xa7, Xa21 kháng được với các nòi gây bệnh bạc lá của Việt Nam. Nếu chọn tạo được những dòng bố, mẹ mang gen này sẽ tạo được các tổ hợp lúa lai kháng bệnh bạc lá có thể mở rộng được diện tích lúa lai ở vụ Mùa.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đề tài đưa ra quy trình chọn tạo dòng bố, mẹ lúa lai hai dòng kháng bệnh bạc lá bằng CNSH (công nghệ đơn bội, chỉ thị phân tử) nên có ý nghĩa khoa học cao. Các dòng bố mẹ kháng bệnh bạc lá là cơ sở chọn tạo lúa lai kháng bệnh bạc lá, mang gen tương hợp rộng là cơ sở khai thác ưu thế lai xa nên có ý nghĩa thực tiễn cao. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển lúa lai trong nước và trên thế giới 1.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển lúa lai trên thế giới Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà cả trên thế giới, đặc biệt quan trọng hơn đối với những nơi mà dân nghèo sinh sống. Vì vậy các quốc gia Châu Á hàng năm tiêu thụ tới 90% sản lượng lúa gạo của thế giới.
Để đảm bảo được nguồn lương thực, đáp ứng cho mức độ tăng dân số của thế giới, trong 30 năm tới sản lượng lúa gạo yêu cầu tăng từ 470 triệu tấn hiện nay, lên 740 triệu tấn. Do diện tích cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng ngày một giảm, sản lượng lương thực buộc phải tăng mạnh hàng năm mới mong nuôi nổi lượng dân số trên thế giới đang ngày một tăng nhanh vì vậy cần phải chọn tạo giống lúa mới năng suất cao, chống chịu tốt. Việc sử dụng ưu thế lai nhằm tăng năng suất lúa là rất cần thiết, Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới thành công đưa ra sản xuất lúa lai trên thế giới, ngày nay diện tích lúa lai chiếm khoảng 50% diện tích trồng lúa của nước này và đã góp phần không nhỏ vào việc gia tăng sản lượng lương thực xoá đói của quốc gia đông dân nhất hành tinh này. Hiện nay, ngoài Trung Quốc, lúa lai đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, Ấn Độ, Việt Nam là hai nước đã thu được những thành tựu nhất định trong nghiên cứu và sản xuất, lúa lai đã được mở rộng và khẳng định chỗ đứng không thể thiếu được trong sản xuất.[8] Diện tích lúa lai ở các nước ngoài Trung Quốc như Bănglades 40 000 ha, Ấn Độ 560 000 ha, Philippin gần 200 ngàn ha, Mỹ 43 000 ha, ngoài ra các nước khác như Srilanca, Ai Cập, Nhật bản cũng trồng lúa lai.
Trong những năm cuối của thế kỷ trước, lúa lai trong sản xuất chủ yếu là lúa lai thuộc hệ ba dòng, sử dụng con lai dựa trên cơ sở của dòng mẹ là dòng 6 CMS, ngày nay trong sản xuất lúa lai hệ ba dòng vẫn còn giữ một vị trí quan trọng vì khá ổn định và không phụ thuộc vào nhiệt độ, xong lúa lai ba dòng còn một số hạn chế, khó duy trì và làm thuần dòng mẹ, phổ phục hồi thấp, giá thành hạt lai cao, khó sử dụng ưu thế lai xa vì vậy đã kịch trần về năng suất. Trung quốc đã đưa vào sản xuất nhiều giống lúa lai hệ hai dòng trong đó có tổ hợp Pêi ải 64S/ 9311 cho năng suất siêu cao sản 17,1T/ ha/ vụ.[5] Trong các năm gần đây, các công ty giống của Trung Quốc, Ấn Độ đang khảo nghiệm nhiều tổ hợp lúa lai hai dòng ở Việt Nam và đang có kết quả tốt.[13] Để khắc phục những khó khăn của lúa lai hệ ba dòng, các nhà khoa học đã tìm ra hướng lúa lai hệ hai dòng và lúa lai 1 dòng. Tuy vậy lúa lai hệ 1 dòng đang còn trong nghiên cứu về lý thuyết, vì vậy việc nghiên cứu và sử dụng lúa lai hệ hai dòng là kinh tế, thuận lợi và có giá trị thực tiễn hơn cả. Lúa lai hệ hai dòng dựa trên nền tảng sử dụng dòng bất dục đực mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn (PGMS), bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) được quan tâm và hiện thực hơn cả ngoài ra còn có dòng bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ ngược (Anti-TGMS).
Do sự ưu việt của lúa lai hai dòng hệ TGMS so với lúa lai ba dòng, đặc biệt đối với các nước nhiệt đới, biên độ chiếu sáng trong ngày chênh lệch ít trong đó sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá lớn và tương đối ổn định rất thuận tiện cho nghiên cứu và phát triển lúa lai hệ hai dòng, sử dụng dòng bất dục đực nhân nhậy cảm với nhiệt độ (TGMS).