MỞ ĐẦU Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ, diện tích đất nông nghiệp chiếm diện tích nhỏ và càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa. Để nông nghiệp thành phố mang lại hiệu quả, cần ứng dụng mạnh mẽ các thành tự khoa học và công nghệ tiên tiên vào trong canh tác nông nghiệp. Cà chua là giống cây trồng có nguồn gốc ôn đới. Nhiệt độ tối ưu cho hầu hết giống cà chua sinh trưởng và phát triển là từ 21 - 28°C (ban ngày) và thấp hơn khoảng 3 - 4°C cho ban đêm.
Khi nhiệt độ trên 30°C và dưới 10°C, cà chua sẽ không đậu quả (Kalloo, 1991). Khí hậu ở Thành phố Hồ Chí Minh là nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích dao. Qua theo déi điều kiện vi khí hậu trong nhà màng trồng cà chua ở Thành phố Hồ Chi Minh cho thấy: nhiệt độ trong nhà màng khi cây cà chua nở hoa luôn duy trì > 32°C; ban đêm thấp hơn khoảng 5 — 7°C; độ 4m trong nhà màng vào thời điểm nở hoa dao động từ 20 - 95% kiểu khí hậu đó không phải là khí hậu tối ưu cho cho sự sinh trưởng, phát triển của cây cà chua. Dé có thé canh tác được giống cà chua trong điều kiện nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh, công tác chọn giống có khả năng thích nghỉ ở điều kiện nóng, khô là rất quan trọng.
Các nghiên cứu về chọn tạo giống cà chua bị Fi tại Việt Nam hiện nay rat it; tap trung chủ yếu ở phía Bắc với nhóm do tác giả chính là GS. Nguyễn Hồng Minh dan dau. Riêng ở phía Nam, các nghiên cứu về chọn tạo giống cà chua bi mới thích hợp với điều kiện canh tác trong nhà màng tại Thành phố Hồ Chi Minh là rat ít. Các nghiên cứu về cà chua bi ở phía Nam chủ yếu tập trung vào công tác sưu tầm, đánh giá các giống nhập nội dé tìm ra giống phù hợp cho khí hậu phía Nam.
Từ năm 2016 tới 2020, Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành pho Hồ Chi Minh đã thực hiện dé tài “Nghiên cứu chọn tạo giống cà chua bi thích hợp với điều kiện trồng trong nhà mang tai Thành phó Hồ Chí Minh. Sau 5 năm sưu tam được 72 giống cà chua bi nhập nội và địa phương. Tiến hành lai được 132 tổ hợp lai. Sau đó chọn lọc và làm thuần các tổ hợp lai từ thế hệ F: đến thé hệ Fs.
Từ nguồn vật liệu này, tác giả đã sử dung 05 dòng thuần triển vọng dùng làm bố mẹ để tao 1 các giống cà chua bi Fi. Vì vậy, đề tai: “Chọn tạo giống cà chua bi (Sonalum lycopersicum L.) F1 thích hợp trồng trong nhà màng tại thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm lai tạo, đánh giá, chọn tô hợp lai cà chua bi tốt để sản xuất hạt giống Fi. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá độ thuần của 05 dòng bố mẹ ở thế hệ Fs bang marker phân tử SSR. - Chọn được 1 - 2 tổ hợp lai có khả năng thích nghỉ với canh tác trong nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh; tổ hợp lai chọn lọc được có năng suất, phẩm chất tương đương với giống F: đối chứng.
Giới hạn của đề tài nghiên cứu. - Năm dòng cả chua bi triển vọng ở thế hệ Fs và 10 tổ hợp lai cà chua bi được tạo ra từ 05 đòng cà chua bố mẹ. Chương | TONG QUAN 1.1 Nguồn gốc, phân loại và giá trị của cà chua 1.1 Nguồn gốc Cà chua thuộc họ Solanaceae, cùng họ với một số cây trồng quan trọng về kinh tế khác như như ca tím và khoai tây. Cà chua được phân loại theo Miller (1754) là Lycopersicon esculentum.
Sau được đôi tên thành Solanum lycopersicum L. Cà chua là một loài lưỡng bội với 2n = 2x = 24 nhiễm sắc thé. Bộ gen cà chua gồm khoảng 950 Mb ADN, hơn 75% trong số đó là chất dị nhiễm sắc và phần lớn là không có các gen (Jones, 2007). Lịch sử cà chua có nguồn gốc bắt nguồn từ những năm dau của dé chế Aztecs, khoảng năm 700 trước công nguyên.
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc cây cà chua trồng hiện nay. Nhưng đại đa số các nhà nghiên cứu thực vật học đều thống nhất: nguồn gốc của cà chua trồng hiện nay là ở bán đảo Galapagos, ở Peru, Equado, Chile. Theo Decadolle và nhiều nhà thực vật học, tổ tiên ban đầu của giống cà chua hiện nay là giống cà chua anh đào (L. Loài này là đã được trồng tự phát khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Mỹ, sau đã lan rộng khắp các vùng nhiệt đới của châu Âu.
Giống cà chua ban đầu này được chuyền từ Peru, Ecuado tới Mehico. Trong quá trình tiến hóa đã có đột biến, thuần hóa dẫn đến hình thành dạng giống quả to. Trên thực tế, một số loài cà chua hoang đại là tổ tiên của các giống cà chua trồng hiện nay vẫn được tìm thấy trên dãy Andes (Peru), Ecuador (đảo Galapagos) và Bolivia. Mặc dù được thuần hóa ở Mexico, cà chua đã được biết đến và được chấp nhận trong một số khu vực của châu Âu, trước khi nó được phổ biến trong phần còn lại của châu Mỹ (hình 1.
Việc thành lập các tuyến đường thương mại và thuộc địa góp phần khuêch tán cà chua ở khắp mọi nơi. Cà chua được mang tới châu Âu từ thế kỷ XVI nhờ Columbus, Cortez và các nhà thám hiểm Tây Ban Nha. Sau đó, cà chua đã trở lên phổ biến ở Tay Ban Nha vào đầu thé ky thứ XVII, nơi nó phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu Dia Trung Hải và trở thành một thực phẩm chủ yếu. Khi lần đầu tiên giới thiệu tại Anh vào cuối thế kỷ XVI, nó chỉ được trồng làm cảnh do cà chua thuộc ho Cà cùng họ với cà Độc Dược (Datura metel) nên người ta cho rang nó cũng là cây độc.
Đến mãi thế ky XVIII (1750), cà chua mới được dùng làm thực phẩm ở Anh. Domestication’ Discovery of b Phylippines Hình 1. Nguồn gốc, quá trình phát tán cà chua trên thế giới. Đến thế kỷ XIX, sau chứng minh của Grorge Washing Carver về sự an toàn và tác dụng của cà chua thì cà chua mới được liệt vào cây rau thực phẩm có giá trị.
Từ đó nó không ngừng phát triển mạnh. Tiếp sau châu Âu, cà chua có mặt ở châu Phi vào cuối thế kỷ thứ XVI, đặc biệt ở Ai Cập và Tunisia. Vai trò của thương nhân Thổ Nhĩ Kỳ là quan trọng với đối với sự khuếch tán của nó thông qua các vùng Địa Trung Hải và Cận Đông, như là vai trò của những người buôn bán gia vị Bồ Đào Nha trong ốc đảo của Mozambique và Angola (Jaime Prohens và ctv, 2008) Sự ra đời của cà chua ở châu Á có thể được bắt đầu từ Philipines, thông qua thương mại của Galleon duy trì với Tây Ban Nha kể từ thế kỷ XVI. Thương mại hàng hải với các đảo và các nước lân cận như Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ có thể đã góp phần vào sự khuếch tán sau này trên toàn châu lục.
Riêng tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cho rằng, cà chua được nhập vào Việt Nam từ thời gian thực dân Pháp chiếm đóng. Sau đó được người dân trồng trọt phố biến như cây bản địa (Nguyễn Hồng Minh, 2000).2 Phan loại Cà chua Solanum lycopersicum L. Đối với chi Lycopersicon Tourn, có rat các phan loai khac nhau tuy theo timg tac gia: Muller (1940), Daskalov va Popov (1941), Luckwill (1943), Lehmann (1953), Brezhnev (1964). Ở My thường sử dung hệ thống phân loại của tác giả Muller (1940).
Ở châu Au và Nga thường sử dụng hệ thống phân loại của Brezhnev (1964). Với cach phân loại của Breznev (1964), Chi Lycopersicon Tourn chia làm 3 loài thuộc 2 chi phụ: chi Subgenus 1 — Eripersicon (chi này có 2 loải) va chi Subgenus 2 — Eulycopersicon, chi phụ này có loài L. esculenum Mill; trong đó bao gồm các loài phụ sau: L. Chi Subgenus 1 — Eripersicon: Chi phụ này gồm các loài hoang dai.
Cây dạng một năm hoặc nhiều năm; gồm các dang quả có lông, màu trắng, xanh lá cây hay vàng nhạt, có các vệt màu antoxian hay xanh thẫm. Hat dày không có lông, màu nâu. Chi này gồm hai loài và các loài phụ. Lycopersicon peruvianum Mill.
cheesmanii riloey va vat. Lycopersicon hirsutum Humb. Chi Subgenus 2 — Eulycopersicon: Cây loài này là loài một năm, quả không có lông, màu đỏ vàng, hạt mỏng, rộng. Chi phụ này gồm một loài là Lycopersicon Esculenum Mill.
Lycopersicon Esculenum Mill. Loài này gồm3 loài phụ: +3*. spontaneum (Brezh): cà chua dai. Bao gồm 2 dạng: + L.
esculentum Mill ssp. subspontaneum — cà chua bán hoang dại. Gồm 5 dạng sau: + L. cersiforme (A Gray — Brezh) — cà chua anh đào.
Mull — Brezh) — cà chua dạng lê. pruniforme (Brezh) — cà chua dang man.elongtum (Brezh) — cà chua dang quả dài. succenturiatum (Brezh) — cà chua dạng nhiêu ô hạt. cultum — cà chua trồng: loài phụ này có 3 dạng: + L.2 Giá trị dinh dưỡng va y học của cay cà chua Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao.
Trong quả cà chua có chứa nhiều loại đinh dưỡng có giá trị cao như: các dạng đường dễ tiêu (chủ yếu là gluco va fructo), các vitamin cơ bản cần thiết cho con người: vitamin A, BI, B2, Bó, C. Mặt khác, trong quả cà chua còn chứa nhiều loại muối khoáng như: K, P, Na, Ca, Mg, S, Fe. vả một sô axit như: oxalic, malic, nicotinic. là những thành phan quan trọng của máu va xương.
Thành phần dinh dưỡng trong 100 gam cà chua Thành phần Đơn vị tính Giá trị trong 100 ø Nước 8 83,43 Nang luong kcal 59 Protein g 2,13 Tổng chat béo 9 1,93 Carbonhydrate g 10,24 Chat xo g 2,20 Canxi mg a7 Sat mg 0,87 Magie mg 19 Phot pho mg 54 Kali mg 356 Natri mg 543 Kém mg 0,36 Vitamin C mg 10,00 Vitamin B1 mg 0,076 Vitamin B2 mg 0,124 Vitamin B3 mg 1,209 Vitamin B6 mg 0,019 Folate ug 8 Vitamin A ug 49 Vitamin D ug 0 Nguồn: USDA National Nutrient Database for Standard Reference, ngày 17/10/2015. Ca chua cũng có giá tri lớn trong y học. Theo tác gia Võ Van Chi (1997), ca chua có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tạo năng lượng, tăng sức sông, làm cân băng tê bào, giải nhiệt, chống ung thư, giảm nguy cơ mắc bệnh tim, tiểu đường. Ỷ Cà chua là một nguồn giàu vitamin A, vitamin C và axit folic.
Cà chua có chứa một loạt các chất dinh dưỡng có lợi và chat chong oxy hóa, bao gồm axit alpha - lipoic, lycopene, choline, axit folic, beta - carotene va lutein.