Đặt vấn đề Tại các nước đang phát triển n i chung và Việt Nam n i riêng, khi mà vấn còn một bộ phận lớn dân cư sống tại nông thôn và c thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, thì tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp. Hay n i cách khác, nông nghiệp vẫn giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta. Hơn thế nữa, trên nền tảng một nước nông nghiệp đang trong quá trình đô thị h a như Việt Nam –việc tập trung dân cư và thay đổi các mối quan hệ xã hội, thì phát triển nông nghiệp vốn được coi là một yếu tố cực kỳ quan trọng. Do đ , nông nghiệp trong quá trình đô thị h a c ng gắn chặt với sự phát triển kinh tế Trong những năm gần đây ngành nông nghiệp trồng trọt đã và đang mang lại giá trị kinh tế vô cùng to lớn.
Tiêu biểu c thể kể đến là các ngành nông nghiệp tại vùng đồng bằng sông Hồng với năng suất lúa mùa vùng Đồng bằng sông Hồng tính đến tháng 11 năm 2020 đạt 56,6 tạ/ha; sản lượng đạt 2,74 triệu tấn.Đồng bằng sông Hồng là khu vực c đất đai trù phú, phù sa màu mỡ. Diện tích và tổng sản lượng lương thực chỉ đứng sau Đồng bằng Sông Cửu Long nhưng là vùng c trình độ thâm canh cao, lâu đời. Nông nghiệp nước ta gặp những trở ngại lớn do bọ trĩ hại gây ra làm cho cây còi cọc sinh trưởng phát triển kém,ảnh hưởng lớn đến năng xuất. Loại bọ này dù còn non hay đã trưởng thành đều rất nhỏ, chỉ dài khoảng 1mm nên không dễ phát hiện.Với đặc tính ưa sáng, vào mùa nắng nóng, họ bầu bí thường đạt năng suất cao và ít bệnh hại.
Tuy nhiên, điều kiện thời tiết này lại là môi trường lý tưởng để các loại bọ trĩ phát triển, gây hại cho nhóm cây vốn rất dễ tổn thương bởi sâu bệnh. Bà con nông dân chưa c kiến thưc rõ ràng về loài động vật hại nguy hiểm này. Do vậy việc phòng chống bọ trĩ gặp rất nhiều kh khăn, 1 đặc biệt hiện nay việc dùng các loại thuốc hoá học có phổ tác dụng rộng là một trong các nguyên nhân chính làm tăng tính kháng thuốc của bọ trĩ n i riêng và làm cho một số loài địch hại từ chỗ chưa nguy hiểm nay trở thành nguy hại, nguy hiểm đối với cây trồng. Đồng thời, việc dùng các loại thuốc hoá học làm ảnh hưởng tới cá loài thiên địch và làm ô nhiễm môi trường.
Hiện nay diện tích rau họ bầu bí được trồng tại vùng đồng bằng sông Hồng đang ngày các phát triển ,cùng với đ là số lượng dịch hại không ngừng gia tăng. Các vùng trồng rau họ bầu bí đã và đang phát triển theo hướng chuyên canh với quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất kh u ngày càng tăng. Tuy nhiên năng suất nông sản của chúng ta vẫn bấp bênh theo từng vụ, từng năm do ảnh hưởng của thời tiết, thiên tai, dịch hại, bệnh hại, virus , chúng đã gây ra thiệt hại đáng kể. Để phòng trừ các sâu bệnh hại nông dân chủ yếu sử dụng thuốc hoá học.
Điều này không những ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng và làm giảm giá trị của sản ph m, hạn chế đến khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường xuất kh u. Vì vậy việc nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại trên rau và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật s g p phân thay thế các loại thuốc trừ sâu hoá học c mức độc hại lớn, tắng giá trị sản ph m g p phần phát triển sản xuất rau quả an toàn, giảm thiểu ô nhiễm cho cộng đồng là rất cần thiết. Đ c ng là lý do đẻ sinh viên thực hiện đề tài dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Phạm Thị Hiếu “Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với t Thrips palmi Karny hại rau h tại Gia Lâm, Hà Nội, Năm 2021 ”.Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.Mục đích 2 Trên cơ sở các thí nghiệm đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật trừ bọ trĩ hại rau họ bầu bí nhằm xác định các loại thuốc có hiệu lực cao trong phòng chống bọ trĩ, đồng thời an toàn với thiên địch và môi trường.Yêu cầu - Điều tra, phỏng vấn người nông dân về các loại thuốc bảo vệ thực vật trừ bọ trĩ T.
palmi đang được sử dụng trên rau họ bầu bí (cây bí) tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội. - Điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ T. palmi gây hại trên rau họ bầu bí (cây bí) tại Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với bọ trĩ T.
palmi - Đánh giá ảnh hưởng của 1 số hoạt chất bảo vệ thực vật đối với đặc điểm sinh học của bọ trĩ T. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.Tình hình nghiên cứu ngoài nước: 2. Một số nghiên cứu về họ bầu bí trên thế giới Tiến bộ trong các nghiên cứu về họ Bầu bí từ năm 1964 được xem xét, đặc biệt chú ý đến vai trò của giải phẫu lớp vỏ hạt, cổ điển và h a thực vật trong việc làm sáng tỏ phân loại của họ; sử dụng các loài hoang dã và các chủng tộc trên cạn làm nguồn cung cấp các đặc tính làm vườn mong muốn để cải thiện mùa màng; tiềm năng của các loài hoang dã để thuần h a như cây trồng mới cho các khu vực nhiệt đới, và sinh học của sinh sản, kiểm soát giới tính và biểu hiện giới tính (Jeffrey, 1980) Họ Bầu bí theo thứ tự Cucurbitales, là một họ thực vật c hoa bao gồm khoảng 98 chi với khoảng 975 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây là loại cây thân gỗ hoặc cây bụi hàng năm hoặc lâu năm.
Rễ c dạng sợi hoặc dạng củ. Thân cây thường c g c cạnh. Lá mọc so le, đơn độc c tua cuốn và hình đầu nhọn. Cây đơn tính cùng gốc hoặc đơn tính cùng gốc.
Hoa đơn tính, hình chùy, hình chùy, hoặc hình phụ. Đài hoa thường c 5 thùy và hình quả trám. Tràng hoa là c giá trị và bất khả xâm phạm. Nhị hoa thường c năm cái.
Buồng trứng thường kém. Quả thường là pepo ( bầu nậm ). Hạt thường nhiều, c nhiều chất đạm. Bốn loài, thuộc các chi khác nhau (Xu & Chang, 2017) Cucumis sativus L., là một thành viên của họ Bầu bí, bao gồm 90 chi và 750 loài.
Đây là một trong những loại cây rau được trồng lâu đời nhất và được trồng ở hầu hết các quốc gia c vùng nhiệt độ. Đây là loài thực vật ưa nhiệt và nhạy cảm với sương giá, phát triển tốt nhất ở nhiệt độ trên 20 ° C. Các giống đặc biệt phải được lai tạo để đậu trái trong điều kiện nhiệt độ không tối ưu. Nhu cầu của ngành công nghiệp chế biến liên quan đến hình dáng bên ngoài - hình dạng, 5 kích thước và màu sắc của quả - c ng khác nhau tùy thuộc vào quy trình bảo quản và quốc gia tương ứng.
Mục tiêu nhân giống chung của dưa chuột là kháng bệnh và động vật gây hại, duy trì sức đề kháng của các giống hiện c , chất lượng quả và năng suất quả (Tatlioglu, 1993). Không những vậy dưa chuột (Cucumis sativus L.) là cây trồng quan trọng đứng thứ hai sau cà chua trong chiến lược xuất kh u của chính phủ. Diện tích trồng dưa chuột trong năm 1999 là 6478 ha, đến năm 2000 đã tăng lên 6617 ha và đến năm 2001 là 6.804 ha; năng suất tương ứng 16,5; 17,9 và 18,2 tấn/ha. Với mục tiêu từ nay đến năm 2010 tổng sản lượng đạt 11.000 tấn trong đ cho xuất kh u đạt 1.
Dưa chuột c tên khoa học là Cucumis sativus tên tiếng Anh là Cucumber, thuộc bộ Cucurbitales, chi Cucumis. là một trong những chi quan trọng nhất về kinh tế của thực vật c hoa và bao gồm nhiều loại rau thường được trồng (ví dụ, dưa chuột, dưa, gherkin Tây Ấn Độ, dưa chuột sừng Châu Phi) c ng như các loài trang trí (họ bầu bí). Bên cạnh cà chua và hành tây, dưa chuột và dưa hấu là những loại cây rau được trồng rộng rãi thứ ba trên thế giới (Ghebretinsae & cs. Tình hình sâu bệnh, nhện hại trên họ bầu bí Bệnh Orthotospovirus đốm vàng dưa (MYSV), một thành viên của chi Orthotospovirus, là một loại virus quan trọng trong họ bầu bí.
palmi được coi là loài gây hại nghiêm trọng nhất trên cây họ bầu bí vì nó gây hại trực tiếp và gián tiếp truyền MYSV cho cây. MYSV được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1992 tại Nhật Bản MYSV chủ yếu gây hại cho các loại cây họ bầu bí như dưa hấu (Citrullus lanatus Thunb.), Bầu sáp (Benincasa hispida Thunb.), và dưa chuột (Cu. Sativus) Trên dưa chuột, MYSV gây ra các vết hoại tử, vàng lá và các triệu chứng khảm, sau đ là giảm năng suất (Murphy & cs. palmi được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1925 ở Indonesia và đã được công nhận là loài gây hại cho các loại cây nông nghiệp và làm vườn từ cuối những năm 1970, sau đ là sự xâm nhập trên toàn thế giới (Cannon & cs.
palmi lần đầu tiên được xác nhận ở vùng Kyushu vào năm 1978 và là một trong những loài gây hại quan trọng nhất đối với dưa chuột (Cu.), cà tím (Solanum melongena L.) và ớt xanh (Ca. annuum) ở phần phía tây của Nhật Bản (Kawai, 1990b) Các thí nghiệm đồng ruộng được thực hiện để nghiên cứu hiệu quả của ba thời điểm trồng dưa chuột (tháng 3, 15; tháng 4, 15 và 15 tháng 5), ba không gian trồng (20, 30 và 40 cm) giữa hạt giống dưa chuột và ba giống dưa chuột (Prince, Al -Wafeer và Medina) về mật độ dân số của Bemisia tabaci (Genn.) Trong các mùa 2010 và 2011. Kết quả chỉ ra rằng, ba biến số (ngày trồng, không gian và giống) có ảnh hưởng rõ rệt đến số lượng nhộng B. tabaci trên cây dưa chuột.
Mật độ dân số của nhộng B. tabaci bị ảnh hưởng đáng kể bởi ngày trồng thử nghiệm, ngày trồng sớm nhất (tháng 3, ngày 15) có mật độ nhộng B. tabaci thấp nhất (7,35 và 6,94 nhộng / năm.2) trong hai vụ, tương ứng. Các cây dưa chuột trồng ở khoảng không gian trồng dài nhất (40 cm) bị nhiễm tỷ lệ nhộng B.
tabaci cao nhất (7,50 và 6,21 nhộng / in.2) trong hai vụ, tương ứng trong hai vụ.