Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, trồng trọt đóng vai trò trọng yếu trong việc bảo đảm sinh kế nông thôn và thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu. Tại khu vực đồng bằng sông Hồng, diện tích chuyên canh các loại rau thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), điển hình như dưa chuột (Cucumis sativus L.) và cây bí, đang không ngừng được mở rộng theo hướng thâm canh quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và chế biến xuất khẩu. Tuy nhiên, sản xuất rau họ bầu bí thường xuyên đối mặt với sự xâm nhiễm nghiêm trọng của nhiều loài dịch hại, trong đó bọ trĩ Thrips palmi Karny là một trong những đối tượng nguy hiểm hàng đầu.
Bọ trĩ Thrips palmi có kích thước cơ thể rất nhỏ (khoảng 1 mm), tập tính ẩn nấp ở mặt dưới lá non, hoa và quả non để chích hút nhựa, dẫn đến hiện tượng lá quăn queo, đọt sinh trưởng còi cọc, hoa rụng và quả biến dạng cong queo làm mất giá trị thương phẩm. Nguy hại hơn, loài côn trùng này còn là véc-tơ truyền các bệnh virus nguy hiểm như bệnh đốm vàng dưa (Melon yellow spot virus - MYSV) và virus gây bệnh đốm bạc dưa hấu (Watermelon silver mottle virus - WMSMoV). Trước áp lực gây hại gia tăng, tập quán phổ biến của người nông dân là sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học với tần suất dày đặc (từ 8 đến 13 lần mỗi vụ), dùng thuốc phổ rộng và phối trộn thiếu cơ sở khoa học. Việc lạm dụng này đã tiêu diệt các loài thiên địch tự nhiên, gây ô nhiễm môi trường sinh thái, gia tăng tồn dư hóa chất trên nông sản và nhanh chóng làm gia tăng tính kháng thuốc của quần thể bọ trĩ.
Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài khóa luận "Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với bọ trĩ Thrips palmi Karny hại rau họ bầu bí tại Gia Lâm, Hà Nội, năm 2021" được thực hiện với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở các thí nghiệm đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật trừ bọ trĩ hại rau họ bầu bí nhằm xác định các loại thuốc có hiệu lực cao trong phòng chống bọ trĩ, đồng thời an toàn với thiên địch và môi trường.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Điều tra, phỏng vấn người nông dân về các loại thuốc bảo vệ thực vật trừ bọ trĩ Thrips palmi đang được sử dụng trên rau họ bầu bí (cây bí) tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips palmi gây hại trên rau họ bầu bí (cây bí) tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội vụ xuân hè năm 2021.
- Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với bọ trĩ Thrips palmi trong điều kiện phòng thí nghiệm.
- Đánh giá ảnh hưởng của một số hoạt chất bảo vệ thực vật ở liều lượng dưới gây chết đối với đặc điểm sinh học và sức tăng quần thể của bọ trĩ Thrips palmi.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Bọ trĩ Thrips palmi Karny hại rau họ bầu bí và vật chủ thực nghiệm là cây dưa chuột (Cucumis sativus L.), quả đậu đũa.
- Phạm vi không gian: Các ruộng canh tác rau họ bầu bí tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội và Phòng thí nghiệm thuộc Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai từ tháng 3 năm 2021 đến tháng 9 năm 2021, tập trung theo dõi trong vụ sản xuất xuân hè.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý thuyết dựa trên các nghiên cứu côn trùng học về phân loại, đặc điểm sinh học và sinh thái học của bọ trĩ Thrips palmi Karny. Về mặt phân loại, loài này thuộc lớp côn trùng (Insecta), bộ cánh tơ (Thysanoptera), bộ phụ Terebrantia, họ Thripidae, phân họ Thripini. Cơ sở sinh thái nhấn mạnh mối tương tác giữa bọ trĩ với ký chủ họ bầu bí (Cucurbitaceae), vai trò truyền lan virus thực vật (Orthotospovirus), cùng hệ thống các loài thiên địch tự nhiên như bọ xít bắt mồi giống Orius (Orius sauteri, Orius insidiosus), nhện bắt mồi (Neoseiulus cucumeris, Amblyseius swirskii) và nấm ký sinh côn trùng (Beauveria bassiana). Cơ sở độc học dựa trên cơ chế tác động của các nhóm thuốc trừ sâu sinh học và hóa học hiện đại (bao gồm các hoạt chất Spirotetramat, Abamectin, Cyantraniliprole, Imidacloprid) và lý thuyết về tác động bán sát thương (sublethal effects) đến bảng sống của côn trùng.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra đồng ruộng được tiến hành theo các quy trình chuẩn hóa:
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 10 nông dân chuyên canh rau họ bầu bí tại xã Văn Đức, Gia Lâm thông qua phiếu điều tra được thiết kế sẵn. Nội dung khảo sát bao gồm diện tích, giống cây trồng, thời vụ, các loài dịch hại và thiên địch ghi nhận, danh mục thuốc bảo vệ thực vật thường dùng, liều lượng, nồng độ pha loãng, dụng cụ phun, thời gian cách ly và đánh giá chủ quan của nông dân về hiệu quả trừ bọ trĩ.
- Phương pháp điều tra côn trùng học ngoài đồng ruộng:
- Áp dụng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-38:2010/BNNPTNT về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng.
- Điều tra thành phần: Định kỳ 1 tháng/lần trên 10 điểm ngẫu nhiên (cách bờ ruộng tối thiểu 2 m), diện tích mỗi điểm 1 m², thu thập mẫu bọ trĩ trên 10 lá/điểm để tính độ thường gặp ($OD%$).
- Điều tra diễn biến mật độ: Định kỳ 7 ngày/lần theo phương pháp 10 điểm chéo góc. Giai đoạn cây con thu ngẫu nhiên 10 lá trên 5 cây liên tiếp; giai đoạn cây lớn thu 10 lá/điểm phân bố theo 3 tầng tán (lá non, lá bánh tẻ, lá già). Mẫu được đưa về phòng thí nghiệm để đếm toàn bộ số cá thể bọ trĩ di động dưới kính hiển vi soi nổi.
- Phương pháp chuẩn bị vật liệu và nhân nuôi sinh học:
- Cây dưa chuột giống nếp lai F1 được trồng trong chậu nhựa (đường kính 10 cm, cao 10 cm) chứa đất vi sinh đã qua xử lý, tưới dinh dưỡng NPK và đặt trong khay nước cách ly côn trùng bên trong lồng mica.
- Quần thể bọ trĩ Thrips palmi thu từ Văn Đức được nuôi trong hộp nhựa chuyên dụng (kích thước $9 \times 9 \times 17$ cm) có nắp khoét lỗ bọc lưới mịn. Đáy hộp rải lớp giá thể khoáng Vermiculite đã sấy vô trùng ở nhiệt độ 45°C để giữ ẩm. Thức ăn là các đoạn quả đậu đũa tươi dài 20 mm, hai đầu bôi vaseline để chống khô nhựa và ngăn bọ trĩ lẩn trốn; định kỳ 3–4 ngày thay thức ăn một lần và bổ sung phấn hoa cho trưởng thành.
- Phương pháp thử hiệu lực thuốc bảo vệ thực vật:
- Thử nghiệm sinh học độc học bằng phương pháp nhúng đoạn quả đậu: Các đoạn đậu đũa dài 20 mm (quét vaseline hai đầu) được nhúng ngập vào dung dịch thuốc bảo vệ thực vật thí nghiệm trong thời gian 30 giây, khuấy liên tục rồi vớt ra để khô tự nhiên trên bề mặt lưới.
- Bố trí tối thiểu 5 lần lặp lại cho mỗi công thức; mỗi công thức sử dụng 20 cá thể bọ trĩ trưởng thành khỏe mạnh cho vào hộp nhựa caramen chứa mẫu quả đậu đã xử lý. Đối chứng được xử lý bằng nước cất sạch.
- Toàn bộ hộp thí nghiệm được duy trì trong tủ định ôn ở nhiệt độ ổn định 27°C, tránh ánh sáng trực tiếp. Giám định tỷ lệ bọ trĩ chết sau 12, 24, 36 giờ bằng kính hiển vi soi nổi và đầu bút lông mảnh.
- Phương pháp đánh giá mức độ mẫn cảm và tác động sinh học thế hệ sau:
- Tiến hành thử thăm dò thang 5 nồng độ để xác định ngưỡng gây chết 50% ($LC_{50}$) và nồng độ dưới gây chết 30% ($LC_{30}$).
- Sử dụng bọ trĩ sống sót sau khi tiếp xúc với liều $LC_{30}$ của hai loại thuốc Movento 150OD và Catex 3.6EC để nuôi tiếp thế hệ $F_1$ trên lá dưa chuột ở nhiệt độ 27°C. Theo dõi chi tiết kích thước các pha phát dục, thời gian phát dục của cá thể đực và cá thể cái, nhịp điệu đẻ trứng, tuổi thọ trưởng thành và thiết lập bảng sống (life-table).
- Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu: Dữ liệu thu thập từ điều tra thực địa và kết quả đếm thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. Hiệu lực thuốc được hiệu chỉnh theo công thức Abbott. Toàn bộ số liệu thực nghiệm được quản lý, tính toán và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel và IRRISTAT.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề
Chương này khẳng định vai trò nền tảng của nông nghiệp trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại các nước đang phát triển, đặc biệt tại vùng thâm canh truyền thống đồng bằng sông Hồng. Đi sâu vào thực trạng canh tác rau màu, tác giả phân tích những khó khăn nghiêm trọng do dịch bọ trĩ gây ra đối với cây rau họ bầu bí. Với kích thước hiển vi và tập tính ưa sáng, bọ trĩ phát bùng phát mật độ rất nhanh trong điều kiện mùa hè khô nóng, trong khi nhận thức và kỹ thuật phòng trừ của người nông dân còn nhiều hạn chế. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học đã dẫn đến vòng xoáy suy giảm hiệu lực thuốc, tiêu diệt thiên địch và làm bùng phát dịch hại thứ cấp. Từ đó, tác giả xác định mục đích nghiên cứu nhằm tuyển chọn các loại thuốc có hiệu lực cao, an toàn sinh thái và làm sáng tỏ tác động của thuốc lên quần thể bọ trĩ.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Chương tổng quan tập hợp và phân tích khối lượng tài liệu học thuật trong nước và quốc tế về các nội dung:
- Ký chủ họ bầu bí: Đặc điểm nông học, diện tích, năng suất của cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) và các bệnh truyền nhiễm liên quan.
- Đặc điểm bọ trĩ Thrips palmi: Nguồn gốc xuất hiện (ghi nhận đầu tiên năm 1925 tại Indonesia), lịch sử xâm nhiễm toàn cầu, tác hại làm suy giảm năng suất cây trồng và thiệt hại kinh tế được định lượng tại Anh, Nhật Bản, Đài Loan. Mô tả chi tiết hình thái học (bộ cánh tơ, đốt bụng, cấu tạo cánh lông mép), chu kỳ sống (trứng, 2 tuổi ấu trùng, tiền nhộng, nhộng trong đất, trưởng thành) cùng ngưỡng nhiệt phát triển tối ưu trong khoảng 25–30°C.
- Thiên địch tự nhiên: Vai trò điều hòa mật độ bọ trĩ của các loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Orius (Orius sauteri, Orius insidiosus), các loài nhện bắt mồi họ Phytoseiidae (Neoseiulus cucumeris, Amblyseius swirskii), bọ rùa và nấm ký sinh Beauveria bassiana.
- Nghiên cứu thuốc bảo vệ thực vật và tính kháng: Đánh giá hiệu lực của nhiều nhóm hoạt chất trên thế giới và tại Việt Nam (Imidacloprid, Abamectin, Pyriproxyfen, Cartap, Spirotetramat, Spinetoram...), đồng thời nhấn mạnh thực trạng kháng thuốc nhanh của bọ trĩ do chu kỳ sinh sản ngắn và tiềm năng tăng quần thể cao.
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày hệ thống về đối tượng nghiên cứu (bọ trĩ Thrips palmi và cây dưa chuột), các trang thiết bị phòng thí nghiệm (tủ định ôn, tủ sấy, kính hiển vi soi nổi, máy hút bọ trĩ, lồng mica, giá thể Vermiculite), cùng các loại thuốc khảo nghiệm gồm Catex 3.6EC, Movento 150OD, Benevia® 100OD và Midan 10WP. Tác giả chuẩn hóa chi tiết 5 quy trình phương pháp: phương pháp phỏng vấn 10 hộ nông dân; phương pháp điều tra thành phần và mật độ bọ trĩ ngoài đồng ruộng theo QCVN 01-38:2010/BNNPTNT; kỹ thuật nhân trồng dưa chuột nếp lai F1; phương pháp nhân nuôi bọ trĩ trong phòng thí nghiệm; và quy trình thử thuốc bằng phương pháp nhúng đoạn quả đậu đũa kết hợp giám định tỷ lệ chết, xử lý số liệu qua công thức Abbott, xác định $LC_{50}$, $LC_{30}$ và lập bảng sống.
Kết quả và thảo luận
Chương kết quả thể hiện toàn bộ các số liệu nghiên cứu đạt được thông qua 4 nội dung trọng tâm:
- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV tại xã Văn Đức, Gia Lâm: Tổng hợp cơ cấu các loại thuốc, tần suất và thói quen phun thuốc trừ bọ trĩ của người dân địa phương.
- Diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips palmi vụ xuân hè 2021: Phản ánh biến động số lượng cá thể bọ trĩ trên đồng ruộng theo thời gian sinh trưởng của cây bí, chỉ ra các thời điểm mật độ đạt đỉnh cao trong vụ.
- Đánh giá hiệu lực của một số thuốc BVTV đối với bọ trĩ: Phân tích so sánh hiệu lực trừ bọ trĩ của các loại thuốc khảo nghiệm, xác định các giá trị $LC_{50}$ của quần thể bọ trĩ Văn Đức đối với thuốc Catex 3.6EC và Movento 150OD.
- Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến đặc điểm sinh học và sức tăng quần thể bọ trĩ: Đánh giá chi tiết tác động của liều $LC_{30}$ từ hai loại thuốc (Movento 150OD và Catex 3.6EC) đối với thế hệ $F_1$ nuôi trên lá dưa chuột ở 27°C. Dữ liệu bao gồm kích thước các pha phát dục (chiều dài, chiều rộng), thời gian phát dục của cá thể đực và cái, tuổi thọ trưởng thành cái, nhịp điệu và tổng số trứng đẻ, cấu trúc bảng sống (life-table) và các chỉ số sức tăng quần thể sinh học.
Kết luận và kiến nghị
Đúc kết các phát hiện cốt lõi về hiệu lực phân hóa của các nhóm thuốc bảo vệ thực vật, sự suy giảm tính mẫn cảm của bọ trĩ với hoạt chất cũ, cũng như những biến đổi sinh học quan trọng ở thế hệ con cháu sau khi tiếp xúc với liều dưới gây chết. Đề xuất các khuyến nghị về việc loại bỏ thuốc giảm hiệu lực, đưa các thuốc mới có hiệu lực cao vào quy trình phòng trừ tổng hợp (IPM) gắn với bảo vệ thiên địch tự nhiên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã ghi nhận và lượng hóa các kết quả nghiên cứu thực nghiệm quan trọng đối với quần thể bọ trĩ Thrips palmi tại Gia Lâm:
- Thực trạng sử dụng thuốc tại địa bàn nghiên cứu: Kết quả điều tra tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm năm 2021 cho thấy nông dân phụ thuộc chủ yếu vào biện pháp hóa học, phun thuốc nhiều lần trong một vụ nhưng hiệu quả khống chế bọ trĩ không ổn định, dẫn đến áp lực chọn lọc tính kháng thuốc trong quần thể dịch hại ngày càng cao.
- Hiệu lực của các loại thuốc bảo vệ thực vật khảo nghiệm: Thí nghiệm sinh học đã chỉ rõ sự khác biệt có ý nghĩa về hiệu lực diệt trừ bọ trĩ trưởng thành giữa các công thức thuốc:
- Các thuốc Catex 3.6EC, Movento 150OD và Benevia® 100OD thể hiện hiệu lực phòng trừ rất cao đối với quần thể bọ trĩ Thrips palmi thu thập tại Văn Đức.
- Thuốc Midan 10WP (chứa hoạt chất Imidacloprid) cho hiệu lực thấp nhất trong số các thuốc thử nghiệm, phản ánh tính mẫn cảm của quần thể bọ trĩ tại địa phương đối với nhóm hoạt chất này đã bị suy giảm rõ rệt sau thời gian dài sử dụng.
- Ảnh hưởng của nồng độ dưới gây chết ($LC_{30}$) lên thế hệ sau ($F_1$):
- Về hình thái học: Xử lý thuốc Movento 150OD và Catex 3.6EC ở nồng độ $LC_{30}$ không làm thay đổi có ý nghĩa thống kê về kích thước (chiều dài và chiều rộng) các pha phát dục của bọ trĩ Thrips palmi thế hệ $F_1$ so với đối chứng xử lý bằng nước lã khi nuôi ở nhiệt độ 27°C.
- Về đặc tính sinh học và sinh sản: Tiếp xúc với thuốc ở liều $LC_{30}$ đã làm thay đổi thời gian phát dục của các pha (cả cá thể đực và cá thể cái), rút ngắn tuổi thọ của trưởng thành cái, đồng thời làm giảm đáng kể nhịp điệu đẻ trứng và tổng số lượng trứng đẻ của bọ trĩ cái thế hệ $F_1$.
- Về bảng sống và sức tăng quần thể: Các tham số trong bảng sống (life-table) của bọ trĩ bị xáo trộn tiêu cực; các chỉ tiêu đánh giá sức tăng quần thể sinh học (như tỷ lệ tăng tự nhiên, tỷ lệ sinh sản thực tế) ở công thức xử lý thuốc Movento 150OD và Catex 3.6EC đều bị suy giảm đáng kể so với công thức đối chứng.
| Nhóm chỉ tiêu theo dõi |
Công thức đối chứng (Nước lã, 27°C) |
Sau xử lý Movento 150OD ($LC_{30}$) |
Sau xử lý Catex 3.6EC ($LC_{30}$) |
| Kích thước các pha phát dục |
Ổn định theo đặc trưng loài |
Không bị biến đổi so với đối chứng |
Không bị biến đổi so với đối chứng |
| Tuổi thọ trưởng thành cái ($F_1$) |
Đạt mức sinh lý bình thường |
Bị rút ngắn rõ rệt |
Bị rút ngắn rõ rệt |
| Tổng số trứng đẻ ($F_1$) |
Tỷ lệ đẻ trứng bình thường |
Giảm đáng kể số lượng trứng |
Giảm đáng kể số lượng trứng |
| Sức tăng quần thể ($r_m, R_0$) |
Tăng trưởng quần thể tối ưu |
Bị ức chế, tốc độ tăng trưởng giảm |
Bị ức chế, tốc độ tăng trưởng giảm |
| Đánh giá hiệu lực trừ bọ trĩ |
Tỷ lệ chết tự nhiên thấp |
Hiệu lực phòng trừ cao ($LC_{50}$ thấp) |
Hiệu lực phòng trừ cao ($LC_{50}$ thấp) |
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp dữ liệu thực nghiệm cập nhật năm 2021 về mức độ mẫn cảm và hiệu lực của các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật hiện hành đối với bọ trĩ Thrips palmi tại vùng rau chuyên canh trọng điểm Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội.
- Làm sáng tỏ cơ chế tác động bán sát thương (sublethal effects) của Movento 150OD và Catex 3.6EC, chứng minh rằng thuốc không chỉ tiêu diệt trực tiếp mà còn gây ức chế khả năng sinh sản và đà tăng trưởng quần thể của các thế hệ tiếp theo.
- Đóng góp cơ sở thực tiễn khoa học cho việc khuyến cáo nông dân ngừng sử dụng hoặc hạn chế các loại thuốc đã bị giảm hiệu lực (như Midan 10WP), thay thế bằng các sản phẩm có hiệu lực cao, góp phần xây dựng quy trình quản lý tính kháng và bảo vệ môi trường nông nghiệp an toàn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi điều tra ngoài đồng ruộng chỉ thực hiện tại một địa bàn (xã Văn Đức, huyện Gia Lâm) trong phạm vi một vụ sản xuất (vụ xuân hè 2021), chưa bao quát được sự biến động mật độ bọ trĩ qua nhiều vụ và các tiểu vùng sinh thái khác nhau của Hà Nội.
- Số lượng mẫu phỏng vấn nông dân còn hạn chế (10 hộ nông dân).
- Các thử nghiệm độc học và đánh giá bảng sống mới chỉ thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm ở một mức nhiệt độ cố định (27°C) trên ký chủ dưa chuột và quả đậu đũa; chỉ tập trung đánh giá chi tiết nồng độ dưới gây chết $LC_{30}$ trên 2 loại thuốc (Movento 150OD và Catex 3.6EC).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi và giám sát diễn biến mật độ bọ trĩ Thrips palmi cùng tính kháng thuốc qua các mùa vụ liên tiếp trong năm (vụ thu đông, đông xuân).
- Mở rộng khảo nghiệm hiệu lực sinh học của các loại thuốc tiềm năng ngoài đồng ruộng ở quy mô diện rộng.
- Nghiên cứu sâu hơn về tác động của các loại thuốc bảo vệ thực vật này đối với quần thể các loài thiên địch tự nhiên bản địa (như bọ xít bắt mồi Orius sauteri, nhện bắt mồi) để hoàn thiện gói kỹ thuật phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây rau họ bầu bí.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Nông học, Côn trùng học: Tài liệu cung cấp quy trình chuẩn mực và chi tiết về phương pháp nghiên cứu độc học côn trùng trong phòng thí nghiệm; kỹ thuật thu mẫu, xử lý và nhân nuôi bọ trĩ bằng giá thể khoáng Vermiculite và quả đậu đũa; phương pháp thử thuốc nhúng đoạn quả; cùng phương pháp lập bảng sống (life-table) và tính toán sức tăng sinh học của côn trùng.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và khuyến nông: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực để định hướng cơ cấu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại địa phương, hỗ trợ việc khuyến cáo nông dân luân phiên hoạt chất, hạn chế sử dụng Imidacloprid (Midan 10WP) khi bọ trĩ đã biểu hiện giảm mẫn cảm, ưu tiên các hoạt chất chọn lọc có hiệu lực cao và an toàn với thiên địch.
- Các nhà nghiên cứu về dịch hại cây trồng: Nguồn số liệu tham chiếu về các chỉ tiêu sinh học, bảng sống và ngưỡng nồng độ gây chết của Thrips palmi phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu về quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nghiên cứu trên đối tượng sinh vật nào và thực hiện tại địa bàn nào?
Khóa luận nghiên cứu loài bọ trĩ Thrips palmi Karny gây hại trên cây rau họ bầu bí (chủ yếu là cây bí và dưa chuột Cucumis sativus L.). Địa bàn điều tra thực địa tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội và các thí nghiệm sinh học được thực hiện tại Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong năm 2021.
2. Trong số các loại thuốc bảo vệ thực vật thử nghiệm, thuốc nào cho hiệu lực cao nhất và thuốc nào cho hiệu lực thấp nhất?
Thí nghiệm đánh giá hiệu lực cho thấy ba loại thuốc Catex 3.6EC, Movento 150OD và Benevia® 100OD đạt hiệu lực phòng trừ cao đối với bọ trĩ Thrips palmi. Ngược lại, thuốc Midan 10WP (hoạt chất Imidacloprid) cho hiệu lực thấp nhất đối với quần thể bọ trĩ thu thập tại Văn Đức.
3. Hoạt chất thuốc ở liều lượng dưới gây chết ($LC_{30}$) gây ra những tác động sinh học nào đối với bọ trĩ thế hệ sau ($F_1$)?
Khi nuôi ở nhiệt độ 27°C trên lá dưa chuột, bọ trĩ thế hệ $F_1$ sau khi tiếp xúc với liều $LC_{30}$ của Movento 150OD và Catex 3.6EC bị rút ngắn tuổi thọ trưởng thành cái, thay đổi thời gian phát dục của các pha (ở cả con đực và con cái), giảm nhịp điệu và tổng số lượng trứng đẻ, đồng thời làm suy giảm các chỉ tiêu sức tăng quần thể sinh học trong bảng sống.
4. Kích thước cơ thể của bọ trĩ Thrips palmi có bị thay đổi sau khi xử lý bằng thuốc bảo vệ thực vật không?
Không. Dữ liệu thực nghiệm đo đạc chiều dài và chiều rộng các pha phát dục của bọ trĩ Thrips palmi thế hệ $F_1$ sau khi xử lý thuốc ở liều $LC_{30}$ cho thấy kích thước hình thái của bọ trĩ không bị ảnh hưởng so với công thức đối chứng xử lý bằng nước cất.
5. Tác giả đã sử dụng kỹ thuật gì để nhân nuôi bọ trĩ Thrips palmi trong điều kiện phòng thí nghiệm?
Bọ trĩ được nuôi trong hộp nhựa có nắp khoét lỗ bọc lưới thông khí; đáy hộp rải giá thể Vermiculite đã qua sấy ở 45°C để hút ẩm; thức ăn là các đoạn quả đậu đũa tươi dài 20 mm được bôi vaseline ở hai đầu cắt nhằm giữ ẩm và ngăn bọ trĩ ẩn nấp, định kỳ 3–4 ngày thay đậu một lần và bổ sung phấn hoa cho bọ trĩ trưởng thành.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Ngọc Anh đã hoàn thành toàn diện việc khảo sát tập quán sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và theo dõi diễn biến mật độ gây hại của bọ trĩ Thrips palmi trên rau họ bầu bí tại xã Văn Đức, Gia Lâm trong vụ xuân hè năm 2021. Bằng các phương pháp thử nghiệm sinh học chuẩn xác, đề tài đã chứng minh hiệu lực vượt trội của các thuốc Catex 3.6EC, Movento 150OD, Benevia® 100OD, đồng thời ghi nhận sự suy giảm hiệu lực rõ rệt của Midan 10WP. Nghiên cứu cũng khẳng định tác động ức chế sinh sản và đà tăng quần thể thế hệ sau của bọ trĩ dưới ảnh hưởng của nồng độ dưới gây chết ($LC_{30}$), cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho công tác quản lý dịch hại và xây dựng chiến lược phòng trừ bền vững bọ trĩ hại rau họ bầu bí.