Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây cà chua 1.1 Vị trí phan loại Phân loại theo Mullar (1940) Tên khoa học: Lycopersicon esculentum Mull. Giới: Plantae Ngành: Angiospermae Lớp: Eudicots Phân lớp: Asterids Bộ: Solanales Họ: Solanaceae 1.2 Nguồn gốc, giá trị cây cà chua Cà chua có nguồn gốc ở Peru, Bolivia, Ecuador, Trước khi tìm ra châu Mỹ thì cà chua đã được trồng 6 Peru và Mexico. Những loài cà chua hoang dai gần gũi với loài cả chua trồng ngày nay vẫn tìm thấy ở dọc theo dãy núi Andes (Peru), đảo Galapagos (Ecuador) và Bolivia. Các nhà vườn đã trồng, thuần dưỡng những giống cà chua quả nhỏ và hoang dại.
Những giống và loài hoang dại này được mang từ nơi xuất xứ đến Trung Mỹ, rồi đến Mexico. Cà chua là loại rau ăn quả được ưa thích vì có phẩm chất ngon, nhiều dinh dưỡng. Hàm lượng vitamin C trong cà chua đạt cao nhất khi trái đã phát triển hoàn toàn về kích thước và độ chín so với những quả còn xanh và hàm lượng tăng cao khi quả càng chín (Aliptay, 2004). Ngoài giá trị thực phẩm thì cà chua còn có giá trị về mặt y học.
Cà chua cung cấp năng lượng, cung cấp khoáng, làm tăng sức sông, làm cân bằng tế bảo, khai vị, giải nhiệt, chống hoại huyết, chống nhiễm khuẩn, chống nhiễm độc, làm kiềm hóa các acid, lợi tiêu, là dung môi của urea, thai urea, giúp tiêu hóa dé dàng tinh bột. Cà chua được 3 chỉ định dùng ăn hay lấy dịch qua dé uống trị suy nhược, ăn không ngon miệng, nhiễm độc mãn tính, thừa máu (trạng thái xung huyết), xơ cứng tiêu động mạch, bệnh về mạch máu, tạng khớp, thống phong, thấp khớp. sỏi niệu đạo và mật, táo bón, viêm ruột (Võ Văn Chi, 1997).3 Đặc điểm thực vật học Cà chua là loại thân thảo, sống theo mùa, ưa khí hậu ấm áp và ảnh sáng đầy đủ. Có ánh sáng cây mới sinh trưởng và phát triển tốt cả chua sinh trưởng và phát triển thích hợp trong điều kiện nhiệt độ trung bình từ 22°C — 26°C.
Nếu nhiệt độ trên 35°C cây cà chua ngừng sinh trưởng, khi nhiệt độ xuống dưới 10°C cả chua không ra hoa. Mặc dù được xếp vào nhóm cây tương đối chịu hạn song cà chua cũng là cây ưa nước, cả chưa cần một lượng nước lớn trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển nên cả chua cần phải được tưới nhiều nước, nếu dé ruộng trồng cà chua lúc thừa lúc thiếu nước sẽ làm cho quả dễ bị nứt. vào thời gian ra hoa nếu thiếu nước sẽ làm cho hoa ít hình thành, dễ bị rụng quả. Cà chua là cây nhị bội thé với bộ nhiễm sắc thé 2n = 24, là cây tự thụ phan (Tạ Thu Cúc và ctv, 2000).
Rễ: rễ cà chua thuộc loại rễ chùm, ăn sâu trung bình, rễ của cây cà chua có thé ăn sâu trên 1 m, nhưng ở tang đất này kha năng hút nước yếu và chất đinh dưỡng ít. Nếu chúng ta khảo sát và nghiên cứu sẽ thấy rõ, hầu hết hệ rễ của cà chua tập trung ở tầng đất 30 cm. Ré cà chua có khả năng tái sinh mạnh ở giai đoạn cây con, khi rễ chính bị đứt thì rễ phụ phát triển rất mạnh (Tạ Thu Cúc, 2007). Rễ cà chua sinh trưởng tốt ở nhiệt độ đất từ 18 - 20°C, khi nhiệt độ xuống thấp từ 14 - 1óC sự phát triển của rễ chậm lại.
Nhiệt độ > 35°C, rễ phát triển trở ngại và có thé chết. Rễ cà chua tương đối chịu han, nhưng hệ rễ sinh trưởng tốt ở đất có độ 4m khoảng 70 - 80%. Bộ rễ cà chua phát triển mạnh nhất vào giai đoạn cây có 4 - 5 chùm hoa nở rộ, cây bắt đầu có quả (Phạm Hữu Nguyên, 2017). Thân: theo Trần Thị Ba (1999), cà chua có thân tròn, thắng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, khi cây lớn gốc thân dan dan hóa gỗ.
Thân mang lá và phát triển hoa. Ở nách lá là chồi nách. Chồi nách ở các vị trí khác nhau có tốc độ sinh trưởng và phát dục 4 khác nhau, thường chổi nách ở ngay dưới chùm hoa thứ nhất có khả năng tăng trưởng mạnh và phát đục sớm so với các chéi nách gần gốc. Theo Tạ Thu Cúc (2007), thân là hệ thống các mạch dẫn dùng đề vận chuyên nước và chất khoáng từ đất lên lá.
Thân cây còn làm nhiệm vụ dự trữ các chất dinh dưỡng do lá sản xuất ra và nâng đỡ các bộ phận khác như: cành, lá, hoa, quả. Tùy vào khả năng sinh trưởng và phân nhánh các giống cả chưa được chia thành 3 dang hình. Dạng sinh trưởng hữu hạn (loại lùn): cây mập, thấp, lùn, long ngắn. Chiều cao của loại này thấp hơn 65 cm.
Trong kỹ thuật trồng trọt không cần làm giản, tạo hình 3 - 4 cảnh cây. Dạng sinh trưởng vô hạn (loại cao): thân có chiều cao trên 1,2 m trở lên, có giống cao trên 1,5 — 2,0 m. Thân là của chúng sinh trưởng mạnh, trên cây có nhiều chùm hoa. Trong sản xuất phải làm giàn, tạo hình mới cho năng suất cao.
Dạng sinh trưởng bản hữu hạn (loại trung bình): chiều cao thân vừa phải, thân lá sinh trưởng mạnh, số chùm hoa trên thân chính ít hơn loại cao và loại lùn. Thích hợp cho nhiều vụ trong năm, trong kỹ thuật trồng trọt cần phải làm giản, tia cành, tạo hình mới cho năng suất cao (Tạ Thu Cúc, 2007). Lá: lá cà chua thuộc loại lá kép lông chim lẻ, mỗi lá kép có từ 3 — 4 đôi lá chét, ở ngọn có một lá riêng biệt gọi là đình lả. Mỗi lá chét có răng cưa sâu, nông khác nhau tùy vào giống, biến chủng.
Trên mặt lá còn có một lớp lông tơ (Trần Thị Ba, 1999: Phạm Hữu Nguyên, 2017). Lá là một trong những đặc điểm đề phân biệt giữa các giống. Dựa vào phiến lá dày hay mỏng, to hay nhỏ, có răng cưa sâu hay nông và màu sắc lá (Phạm Hữu Nguyên, 2017). Hoa: hoa cà chua mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chính.
Sự thụ phấn chéo ở cà chua khó xảy ra vì hoa cả chua tiết nhiều tiết tổ chứa các alkaloid độc nên không hấp dẫn côn trùng và hạt phan nặng không bay xa được (Trần Thị Ba, 1999). Số hoa trên mỗi chùm của các giống thường gặp trong sản xuất có từ 3 - 20 cái, thông thường có từ 5 - 7 cái, tuy rang cây ca chua có khả năng sinh ra rất nhiều hoa nhưng thưởng thì rụng di nhiều (Tạ Thu Cúc, 2007). Loại sinh trưởng hữu hạn (loại thấp): cây có 7 - 8 là sẽ ra chùm hoa đầu tiên, sau đó cứ cách 1 - 2 lá lại ra chùm hoa kế tiếp, cứ tiếp tục mãi cho đến khi trên thân chính 5 có độ 3 — 6 chùm hoa và trên ngọn xuất hiện chùm hoa cuối cùng và cây không tăng trưởng về chiều cao cây (Phạm Hữu Nguyên, 2017). Loại sinh trưởng vô hạn (loại cao) khi cây có 9 - 12 là sẽ ra chùm hoa đầu tiên, sau đó cứ cách 2 — 3 lá lại ra chùm hoa kế tiếp, cứ tiếp tục mãi cho đến khi cây già cỗi và tan lụi.
Số chùm hoa trung bình thân chính có thé 12 - 13 chùm hoặc cao hơn. Đặc điểm của loại hình nảy ra hoa muộn, chùm hoa ở vị trí thưa hơn (Phạm Hữu Nguyên, 2017). Loại sinh trưởng bán hữu hạn (loại trung bình): khi thân có 7 - 8 lá thì có chùm hoa thứ nhất, sau đó cứ cách 1 - 2 lá có chùm hoa tiếp theo cho tới khi trên thân chính có 7 - 8 chùm hoa thì cây ngừng sinh trưởng chiều cao (Phạm Hữu Nguyên, 2017). Quả: quả cà chua thuộc loại quả mọng, nhiều nước, chia ra nhiều ô (buồng, hạt, tâm bì).
Hình dạng quả, màu sắc quả, số ngăn trong quả rất khác nhau tùy thuộc vào giống. Khối lượng quả có sự chênh lệch đáng kể giữa các giống cà chua. Căn cứ vào khối lượng qua chia thành 3 loại: quả nhỏ có khối lượng 1 quả nhỏ hon 50g, quả trung bình có khối lượng 1 quả từ 50g đến 100g, quả to có khối lượng 1 quả lớn hơn 100g (Ta Thu Cúc, 2007).4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây cà chua Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cà chua có thể chia làm 2 nhóm chính: nhóm nguyên nhân phi sinh vật và nhóm nguyên nhân sinh vật. Nguyên nhân phi sinh vật là những yếu tố tự nhiên, điều kiện ngoại cảnh không phù hợp bao gồm đất trồng, nước, nhiệt độ.
ánh sáng, tia phóng xa, các khí độc trong không gian và chất độc hóa học. Đất trồng là nguồn cung cấp chủ yếu các chất dinh dưỡng và nước cho cây trồng. Cũng như các cây trồng khác, cà chua cần ít nhất 20 nguyên tô dinh dưỡng cho quá trinh sinh trưởng và phát triển bình thường. Trong các nguyên tố đa lượng thì cà chua cần nhiều kali hơn cả, sau đó đến dam và lân.
Nếu dat thiếu đạm cà chua sẽ bị bệnh, bị biến đổi màu sắc lá, héo ta, cây can cỗi. Trường hợp đất thiếu lân làm chậm sự phát triển của cây, đặc biệt là trong quá trình hình thành các cơ quan. Cây có thê bị chết nếu đất thiếu kali do các mô của cây bị chết dần. Nhưng ngược lại, nếu thừa kali thì sẽ làm cho quả chín sớm hơn nhưng quả nhỏ, cây sinh trưởng kém.
Mặt khác, nếu thiếu các nguyên tố vi lượng cũng gây ra các triệu chứng bệnh cây. Thiếu Bo các điểm sinh trưởng của cây sẽ bị chết. Nước: đất trồng thiếu nước thì cây bị khô héo, dé gây ra hiện tượng rung hoa, quả nhất là trong trường hợp thiếu nước đột ngột. Ngược lại khi đất thừa nước, nạn ngập úng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng thiếu dưỡng khí trong đất, gây cản trở cho sự hoạt động của bộ rễ.
Thừa nước còn ảnh hưởng đến sự hoạt động của tập doan vi sinh vật đất, day mạnh hoạt động của vi sinh vật yếm khí, tích lũy các khi độc, nhất là H, S gây độc rễ cây, làm rễ mắt kha năng hút nước và chất dinh dưỡng. Cây dan dan bị can cọc, khô vàng, héo lại và chết. Độ 4m thay đối một cách đột ngột, từ khô hạn chuyên sang mưa âm, độ 4m đất tăng lên quá cao cũng dẫn đến tình trạng làm nứt rạn quả. Ngoài ra, còn có những trường hợp do đất có cau trúc quá chặt, làm dat dé đóng váng đều ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng của cây, đặc biệt là sự phát triển của bộ rễ (Đường Hồng Dật, 1969; Vũ Triệu Mân và ctv, 1998; Phan Thúy Hiền và ctv, 2009).