Đặt vấn đề Chuối là tên gọi các loài cây thuộc chi Musa có thân thảo lớn và là cây mang lại nguồn thu chủ yếu cho phần đông cư dân tại các vùng ẩm trên thế giới. Đa số các giống chuối trồng thuộc thé tam bội, loài Eunnisa, họ Musaceae. Việt Nam thuộc khu vực khởi nguyên cây chuối, do vậy có một nguồn tài nguyên di truyền cây chuối rat phong phú bao gồm giống chuối trồng, chuối bán hoang dại và hoang đại. Ở Việt Nam, chuối được trồng khắp từ Bắc vào Nam, là nguồn cacbonhydrat, đường và vitamin quan trọng trong đời sống hằng ngày, là cây trồng góp phần nâng cao thu nhập và mức sống cho người dân.
Ngoài việc tiêu thụ nội địa, hiện nay chuối còn xuất khẩu sang thị trường thé giới. Tuy nhiên, nhiều nam và vi khuẩn gây bệnh là những hạn chế nghiêm trọng đối với sản xuất chuối, cả xuất khẩu và thị trường nội địa. Trong đó, bệnh héo do Fusarium (hay còn gọi là bệnh héo vàng Panama, bệnh héo rũ) do nam Fusarium oxysporum trong đất gây ra, hiện là mối đe doa nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp chuối trên toàn thé giới, làm anh hưởng lớn đến năng suất, giá trị thương phẩm và dinh dưỡng của chuối. Bệnh thường gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây nhưng mạnh nhất là giai đoạn cây trưởng thành, ra hoa, tạo quả, lây lan chủ yếu theo cây chuối con và đất nhiễm bệnh.
Nắm xâm nhập vào cây thông qua rễ và xâm nhiễm vào hệ thống mạch ngăn chặn hấp thu chất dinh dưỡng gây chết cây (Stover và Waite, 1960). Theo FAO, bệnh héo vàng Panama đang đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất và xuất khâu chuối ở nhiều nước trên thế giới, tác động xấu đến chuỗi giá trị và sinh kế của người nông dân. Nhiều biện pháp được áp dung để giảm thiểu thiệt hại do nam Fusarium oxysporum gây ra, hóa chất được sử dụng rộng rãi dé quản lý nam bệnh. Tuy nhiên, việc sử dụng hóa chất vừa không làm giảm được thiệt hại, làm tăng chi phí cho sản xuất mà còn để lại hậu quả nghiêm trọng về môi trường và sức khỏe của con người.
Ngày nay, mọi người đặc biệt quan tâm về sức khỏe nên những nhu cầu về sản phẩm sạch được ưa chuộng. Từ nhu cầu đó, các phương pháp phòng trừ bệnh hại cây trồng bằng phương pháp hóa học dần được thay thế bằng các phương pháp sinh học, dau tranh sinh học là một trong những giải pháp được sử dụng rộng rãi. Nhiều nhóm vi 1 khuẩn nội sinh vùng rễ có đặc tính đối kháng với tác nhân gây bệnh đã được sử dụng Bacillus subtilis, Burkholderia và Pseudomonas có khả năng tiết ra nhiều loại kháng sinh ức chế nhiều loại nam gây bệnh có nguồn gốc trong đất. Xuất phát từ thực tế trên, dé tài “Phân lập và tuyến chọn các chủng vi khuẩn nội sinh vùng rễ đối kháng với Fusarium oxysporum phan lập từ cây chuối bị héo vàng” được thực hiện.
Mục tiêu đề tài Chọn lọc các chủng vi khuan nội sinh vùng rễ có khả năng đối kháng cao với nam Fusarium oxysporum được phân lập từ cây chuối bị héo vàng. Nội dung thực hiện Phân lập chủng Fusarium oxysporum phân lập từ cây chuối bị héo vàng. Phân lập các chủng vi khuẩn nội sinh vùng rễ cây chuối đối kháng với nam Fusarium oxysporum được phân lập từ cây chuối bị héo vàng. Khao sát kha năng ức chế nam Fusarium oxysporum của một số vi khuẩn nội sinh vùng rễ trong điều kiện in vitro.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tổng quan về cây chuối 2. Nguồn gốc, phân loại 2. Nguồn gốc Nguồn gốc của các giống chuối trồng đều xuất phát từ 2 loài chuối dai có hạt trong chỉ Musa là Musa acuminata và Musa balbisiana.
Chính sự tái tổ hợp trong điều kiện tự nhiên và qua nhiều đời giữa 2 loài này đã hình thành rất nhiều nhóm giống chuối. Trong đó nhóm Cavendish mang kiểu gen AAA với rất nhiều giống chuối tiêu thương mại đang được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Các nghiên cứu về chọn tạo giống và phát triển sản xuất chuối chủ yếu được thực hiện đối với nhóm này (Simmond và Shepherd, 1955). Phân loại Theo Simmond và Shepherd (1955), cây chuối nằm trong bộ gừng Zingiberales, họ Musaceae, chi Musa.
Chi Musa theo truyền thống được phân chia thành 5 phân chi là Ingentimusa, Australimusa, Callimusa, Enmusa và Rhodochlamys. Ở ho Musaceae có 2 chi Ensete va Musa. Chúng rất giống nhau ở bộ lá và dang cây song có một số đặc điểm lại rất khác nhau: Chi Ensete có bộ lá giống lá chuối nên một thời gian dài người ta xếp chúng vào họ Musaceae. Đây là loại cây thân thảo chỉ sinh sản một lần, thân ngầm không bao giờ đẻ nhánh.
Hoa và lá bắc dính liền nhau vào cuống buông, chúng sinh sản hữu tính. Không giống nào trong chỉ này có quả ăn tươi được vì quả của chúng chỉ có một lớp vỏ mỏng bên trong chứa day hạt có đường kính từ 1 — 1,2 em. Chi này có giống Ensete vetricosum thường trồng ở Đông Phi. Be của chúng dùng làm rau ăn hoặc lay chất bột trong bẹ ủ lên men làm bánh ăn.
Chi Musa có 4 phân chi là Austrilimusa, Callimusa, Eumusa và Rohdochilamy. Trong các phân chi, Australimusa là phân chi cỗ nhất, các cây M. abaca chi sử dung làm dây buộc, chúng chi có ý nghĩa về khía cạnh nguồn gốc của chuối, không có ý nghĩa về kinh tế. Calimusa chỉ có một loài dùng làm cảnh do lá bắc màu đỏ tươi Musa coccinea.
Rhodochlamys tuy có NST cơ sở là 11 nhưng có đặc điểm là bông đứng và rat ít hoa trong mỗi lá bắc (từ 1 — 5 hoa). Cây chuối cảnh đỏ Musa ornata có lá bắc màu hồng tím nhạt, hoa màu vàng tươi, loại này giống Calirmusa chi trồng dé làm cảnh (Rowee và Rsales, 1993). Trong các phân chi trên, Zzzsa là phân chi đáng chú ý nhất không chi vì chi lớn nhất, phong phú về giống nhất mà còn về giá trị kinh tế của nó đặc biệt trong lĩnh vực ăn tươi và làm lương thực. Buồng quả của Eumusa ít nhiều cup xuống có thể hoi ngang hay buông thõng xuống.
Ở mỗi nải, số quả nhiều và được xếp thành hai hàng. Trong Eumusa, các giống chuối đại ít khi có ích nhưng lại có giá trị trong lĩnh vực nghiên cứu về phân loại. Theo Simmonds và Shepherd (1955), các loài chuối ăn được đều xuất phát từ hai loài chuối dai có hạt M acuminata colla (ký hiệu là A) và M. acuminata colla va M.
balbisiana colla là hai loài quan trọng nhất trong chi Musa. Hai loài này có xuất xứ từ Đông Nam châu A. Trải qua nhiều quá trình di truyền đã tạo ra loài chuối không hạt, ăn được. Hiện nay lý thuyết này được hầu hết các tác giả công nhận.
Giá trị dinh dưỡng Chuối là một loại trái cây có thành phần của hầu hết những vi chất cần thiết cho cơ thể. Ngoài ra chuối có thể điều hoà hoạt động của hệ thần kinh và làm giảm nguy cơ những bệnh về tim mạch do hàm lượng Kali tự nhiên rất cao có trong chuối và cả 10 loại axit amin thiết yếu của cơ thể. Theo phân tích của khoa học, chuối chín bao gồm nhiều chất bột, chất đạm, chất xơ và khoáng chất. Theo Viện nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Malaysia (MARDI), chuối là loại trái cây duy nhất hội tụ đầy đủ thành phần những chất đinh dưỡng cần thiết cho cơ thé con người.
Do đó, chuối đặc biệt thích hợp dé bé sung khẩu phần dinh dưỡng cho trẻ em và người già. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối 2. Sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), sản lượng chuối trên thế giới năm 2019 khoảng 116,8 triệu tan. Trong đó dẫn dau là An Độ 30,5 triệu tấn, tiếp đến là Trung Quốc 11,7 triệu tan, Indonesia 7,3 triệu tan, Brazil 6,8 triệu tấn, Ecuador 6,5 triệu tấn, Philippines 6 triệu tấn.
Việt Nam xếp thứ 14 về sản lượng với trên 2,2 triệu tân. Sản xuất và tiêu thụ chuối ở Việt Nam Các loại cây ăn quả có diện tích và sản lượng lớn của Việt Nam bao gồm chuối, dứa, cam, xoài, nhãn và vải. Trong đó, chuối là cây ăn quả có quy mô sản xuất lớn nhất. Năm 2019, sản xuất chuối đạt tong dién tich 133,638 ha va tao ra san luong 2,194,247 tan, cao hon so với các loại cây ăn quả khác.
Theo Hoàng Bằng An và ctv (2010), phần lớn diện tích chuối ở nước ta trồng phân tán, không thành vùng tập trung. Với đặc điểm là cây ăn quả ngắn ngày, nhiều công dụng và ít tốn diện tích nên chuối được trồng như một cây tận dụng đất trong các vườn cây ăn quả của các hộ gia đình. Hiện tại, một số tỉnh ở miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An, Khánh Hoà và ở miền Nam như Đồng Nai, Sóc Trăng và Cà Mau có diện tích chuối từ 3. Trong khi đó các tỉnh trồng nhiều chuối ở miền Bắc như Hải Phòng, Nam Định và Phú Thọ có diện tích chưa đạt 3000 ha.
Tổng quan về nắm Fusarium oxysporum 2. Vị trí phần loại Giới: Fungi Ngành: Ascomycetes Lớp: Deuteromycetes Bộ: Moniliales Họ: Tuberculariaceae Chi: Fusarium Loài: Fusarium oxysporum 2. Dac diém hinh thai va dic tinh sinh hoc Nam Fusarium oxysporum có 3 kiểu bao tử vô tinh bao gồm: bào tử lớn (Macroconidia) nhiều nhân, có dạng hình liềm, có 2 — 6 vách ngăn, kích thước 22 — 36 x 4—5 um; bao tử nhỏ (Microconidia) đơn nhân, đôi khi có 2 vách ngăn, hình oval, một số kéo dài, kích thước 5 — 7 x 2,5 — 3 um; bào tử hậu (Chlamydospores) hình oval có kích thước 7 — 9 um hoặc hình cầu đường kính khoảng 7 — 7,5 um, có vách dày được tạo ra trong cây vào giai đoạn muộn của chu kỳ bệnh, bào tử hậu rất bền và tồn tại trong thời gian dài, khi gặp các điều kiện thuận lợi chúng tách ra và mọc các ống mam (George, 1989). Theo Ashby (1913), đặc điểm hình thai đặc trưng của nam F.
oxysporum trên một sô môi trường như sau: Bang 2. Đặc điểm hình thái nam trên một số môi trường Môi trường Đặc diém Thạch chứa aspagagine Hệ sợi nam khí sinh có mau trăng tuyết và phát triển đạng hình sao Chuôi Soi nam khí sinh dây đặc có mau trang sau đó có nhiêu hạch màu xanh tôi. Hệ sợi nam khí sinh tạo ra màu đỏ hoặc tím hoa ca ¬ a ; Gôc cuông bao tử sinh ra có mau vàng sau đó Khoai tây lưu giữ lâu ngày ‹ = là màu xanh tôi 2.