Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây mít 1.1 Nguồn gốc và phân bố Mit (Artocarpus Heterophyllus Lam.) thuộc chi Artocarpus là một thành viên của họ Dâu tằm (Moraceae) được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ. Các tên khác của loài này bao gồm: A.maxiija Blanco, Soccus arboreus major Rumph., Polyphema jaca Lour. Mit là một loại quả tươi nhiệt đới được phô biến rộng rãi. Quả mít có múi, múi mít chiếm 15 - 18% trọng lượng quả.
Múi mít chứa khoảng 55 % độ âm và là nguồn cung cấp tỉnh bột và protein (Mahanta và ctv, 2015). Từ xưa, Mit đã được trồng rộng ở các nước Nam và Đông Nam Á cho đến sau này được lan truyền ra các quốc gia khác ở châu Á, châu Phi, châu Đại Dương. Hiện nay câyMít được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới châu Á như: Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Srilanca, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines. Ở Úc, Mít được trồng chủ yếu tại các vùng nhiệt đới phía bắc Queensland và xung quanh khu vực Darwin thuộc Lãnh thé phía Bắc Úc.
Cây Mit cũng được tìm thấy trên khắp châu Phi (như ở Cameroon, Uganda, Tanzania, Madagascar, và đảo quốc Mauritius), cũng như ở nhiều nước nhiệt đới Nam và Trung Mỹ như Brazil, Jamaica, Nam Florida. Qua Mit và các sản phẩm từ Mit là một mặt hàng thực phẩm phổ biến trên khắp các châu lục khi giaothương quốc tế ngày càng mở rộng (Chayon Goswami, 2016).2 Diện tích và sản lượng trồng mít Ở Việt Nam, mít được trồng ở tất cả các khu sinh thái nông nghiệp, với diện tích cả nước khoảng 59.479,4 ha, tập trung chủ yếu ở Miền Nam (Đồng Nai 7.643,77 ha, Hậu Giang 6.965,71 ha, Tiền Giang 13. Theo thống kê Cục trồng trọt năm 2020 cho thấy, sản lượng khoảng 547.502,24 tan với năng suất 15,83 tan/ha. Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích mít lớn nhất với 29.979,38 ha, năng suất 18,11 tan/ha, sản lượng 296990.1 tan, trong đó tại TP.
Hồ Chí Minh có diện tích 254.81 ha, năng suất 13.911 tan/ha, sản lượng 2910 tan (Cục Bảo vệ thực vật, 2020).1 Diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượng mít ở một số vùng trồng mít Diện tích Sản lượng ién tí Diện tích mới ă Á ' Vùng/tỉnh THẬN: aes a omer cho san Nẵng suất thu hoạch An cówổ (ha) hiện trông g (ha) # (ha) phẩm (ta/ha) (ha), CẢ NƯỚC 59. Sông Hong MIỄN NAM 50.605,4 Dong Nam Bộ 12.990,1 Sông Cửu Long (Số liệu Chi Cục Trông Trot, 2020) 1.3 Thị trường tiêu thụ Mit không chỉ bán ở nước ta mà nó còn là loại nông sản được xuất khẩu sang các nước khác. Việt Nam đang xuất khâu mít sấy khô, quả mít đông lạnh và quả mít tươi sang nhiều nước trên thé giới. Các thị trường chính của quả tươi bao gồm Trung Quốc, Dubai, Philippin, Italia, Hàn Quốc.
Mang lại giá trị kinh tế cao cho ngành sản xuất nông sản nước ta (Cục Bảo vệ Thực vật, 2021).4 Đặc điểm thực vật học của cây mít Đặc điểm cụm hoa và hoa mít: Cụm hoa đơn độc, mọc ở nách lá trên các chéi bên, lá ngắn đặc biệt phát sinh từ các cành già và thân chính, đầu hoa đực hình thùng hoặc hình elip, dai 3 - 8 cm và ngang 1 - 3 cm, bao gồm các hoa bất thụ và màu mỡ gan chặt trên lõi trung tâm (bau), màu xanh đậm, cuống dài 1,5 - 3,5 em và dày 0,5 - 1 cm, mang vòng hình khuyên gần đầu xa; hoa đực bất dục với bao hoa cứng; hoa đực màu mỡ có hình ống, hai lá mầm, bao hoa dai 1 - 1,5 mm, nhị dài 1 - 2 mm; đầu cái sinh ra đơn lẻ hoặc thành cặp cách xa vị trí của đầu đực, hình trụ hoặc thuôn dài, màu xanh đậm, dài 5 - 15 cm, ngang 3 - 4,5 cm, có hình khuyên rõ ràng ở đầu trên của cuống mập, phụ bởi một lá bắc dạng bông, sớm rung, dài 5 - 8 cm; hoa cái có bao hoa hình ống hợp nhất ở cả hai đầu và hình chóp nhọn 3 - 7 góc, cùn hoặc nhọn, đỉnh hình chóp nhọn ở phía trên bởi các vòi hoa và nhụy có kiểu hình thoi hoặc xếp li (Cục Bảo vệ Thực vật, 2021). Hoa đực không có cánh hoa, mọc chen nhau trên cùng một trục gọi là cụm hoa, hoa đực có hình đuôi sóc, nhỏ và dài, bao phấn nồi lên trên bề mặt cụm hoa. Hoa cái sinh ra từng cụm, không có cánh, mọc sát nhau trên cùng một trục, to hơn, mỗi cụm có tới vài trăm hoa, nhụy chẻ đôi, nồi lên trên mặt cụm hoa. Cả cụm hoa đực và cụm hoa cái đều được nông dân gọi là “dái mít”.
Hoa đực rụng sớm còn hoa cái sau khi đã thụ phan lớn lên thành một quả phức hợp, mỗi múi là một quả con (Nguyễn Hồng Anh, 2009).1 Hoa đực va hoa cái Đặc điểm quả mít: Quả mít là một quả tụ lớn còn gọi là quả phức màu vàng dài 30 - 100 cm và đường kính 25 - 50 cm, hình trụ tròn đến hình quả lê treo trên một cuống bền chắc. Bề mặt quả có nhiều gai nhỏ hình chóp nhô ra chính là các đỉnh của quả thật nằm bên trong quả phức. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được. Quả phức gồm nhiều quả thật, quả thật không phát triển tạo thành xơ mít, quả thật phát triển tạo thành múi mít.
Múi mít có phần thịt mềm, là thành phần chính để ăn từ quả mít. Các bao hoa của từng quả thật riêng lẻ phát triển thành các múi và bao quanh các hạt, mỗi thịt múivà một hạt là một quả riêng lẻ. Thịt múi có màu vàng trang hoặc vàng và vàng nhạt (Vũ Công Hậu, 2000).5 Đặc điểm sinh thái Khí hậu Mit là cây trồng nhiệt đới nên thích nghi với khí hậu nhiệt đới 4m và cận nhiệt đới, do vậy nó có thé thích nghi ở nhiều vùng khí hậu từ trung bình đến 4m va âm ướt. Dé sinh trưởng và phát triển tối ưu, Mit yêu cầu nhiệt độ ấm, 4m, khí hậu và lượng mưa phân bố đều ít nhất 1500 mm.
Theo Vũ Công Hậu (2000) chỉ nên trồng Mit ở những vùng có lượng mưa từ 1000 mm trở lên. Tăng trưởng sẽ bị chậm lại nếu lượng mưa dưới 1000 mm. Dé sản xuất Mit cho năng suất ổn định cần lượng mua hang năm từ 1000 - 2400 mm trở lên. Cây Mít không chịu được điều kiện đất âm ướt hoặc ngập liên tục, cây có thể suy yếu và chết sau 2 - 3 ngày trong điều kiện đất ngập ướt.
Mít yêu cầu nhiệt độ 4m, không chịu được nhiệt độ thấp và nhiều sương muối. Do là lý do vì sao Mít không được trồng ở các tỉnh vùng cao miền Bắc nước ta. Dat dai Mit phát triển khá chậm và thấp ở vùng đá vôi can. Mit có thé sống trên nhiều loại đất khác nhau, ké cả đất xám bạc màu.
Tuy nhiên, nếu trồng trên đất xấu, chất dinh dưỡng kém thì cây sinh trưởng cũng kém, it trái, trái nhỏ, dé biến chất, trái không ngon. Đất tốt, sâu, xốp, đủ độ 4m và thoát nước như dat phù sa, đất thịt pha có đủ màu mỡ, mít sinh trưởng và phát triển nhanh, bảo tồn được những đặc tính của cây mẹ. Ở nơi đất tốt, âm, mít sinh trưởng quanh năm, cây lúc nào cũng thấy có lá non, ở nơi đất khô cằn đến mùa nắng và mùa lạnh sinh trưởng kém. Chú ý là nơi đất thấp, bị ngập úng thì cây không sống được (Nguyễn Thị Ngọc An, 2001).
Ở Ấn Độ, người ta cho rang cây mit phát triển cao và 6m trên vùng cát, thấp và mập ở vùng nhiều đá. Nếu rễ không tiếp xúc với nước thì cây sẽ không thé chịu được và có thé chết. Đã có những điền hình như Đông Triều tinh Hải Hưng trồng hàng tram ha trên đất gò xấu không có sản lượng đáng ké (Đường Hồng Dat, 2000). Dinh dưỡng Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2012) mít là loài cây rất dễ trồng và thích nghỉ với nhiều loại đất, nhưng yếu tố dinh đưỡng cũng rất quan trọng.
Lượng chất dinh dưỡng ma hang năm cây lấy đi của đất rất nhiều. Tuy vậy, nếu trồng mít nơi dat tốt và trồng rải rác thì nhu cầu bón phân cung cấp thêm dinh dưỡng nói chung không lớn, vì bộ rễ của cây mít rat phát triển. Trường hợp dat xấu, trồng nhiều và có mục đích dé kinh doanh, tăng sản lượng thì nên bón thêm đủ phân NPK va phân hữu cơ.6 Một số bệnh hại chính trên cây mít Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2012), bệnh hại trên cây mít chủ yếu gồm có các bệnh sau: Bệnh nứt thân xì mủ: vườn mít quá 4m ướt và có nhiều loại sâu hại là cơ hội tốt cho nam Phytophthora xâm nhập. Bệnh gây hại trên thân và các cành lớn.
Vết bệnh lúc đầu là những đốm thâm đen hơi ướt. Về sau vết bệnh lớn làm vỏ cây khô, nứt và có mủ xì ra, lâu ngày nắm ăn sâu vào trong phần gỗ, cây sinh trưởng kém, lá vàng, cành bị khô chết. Trồng cây trên đất cao ráo, thoát nước tốt. Phong tri bang cach cao sach nơi vết bệnh rồi bôi các thuốc Mexyl MZ, Ridozeb, Aliette, Alpine.bôi thuốc 2 - 3 lần cách nhau 7 - 10 ngày.
Bệnh thối quả: bệnh do nam Rhizopus nigricans gây ra. Bệnh chủ yêu hại hoa va quả mít non, nam làm hoa và quả bị thối đen, trên đó sinh các sợi nắm màu đen mọc tua tủa. Bệnh phát triển nhiều trong mùa mưa. Phòng trừ bằng cách loại bỏ kịp thời các hoa và quả bị bệnh.
Phun các thuốc Vimancoz, Zin, Bendazol, thuốc gốc đồng. Bệnh đốm nâu: Tác nhân là nam Phomaopsis artocarpina. Triệu chứng: bệnh chủ yếu hại lá. Vết bệnh hình tròn, lúc đầu nhỏ, màu nâu, sau lớn lên đường kính 10 - 15 mm, ở giữa màu xám tro, trên đó có những hạt nhỏ màu đen xếp thành các đường vòng đồng tâm, đó là các 6 bào tử.
Phòng trừ bang cách khi bệnh phát sinh nhiều phun các thuôc gôc Đông, Vimancoz, Zin, Bendazol. Bệnh nam hồng: Tác nhân Nam Corticium salmonicolor gây ra. Triệu chứng: nắm tạo thành những mảng màu trắng hoặc hồng trên cành làm lá vàng héo, cành khô. Phòng trừ bằng cách tỉa cành cho cây thông thoáng.
Phun lên cành và chỗ bị bệnh bằng các thuốc Validacin, Viben C, Anvil.2 Bệnh đen xơ do vi khuẩn Pantoea stewartii gây hại trên mít 1.1 Phân bố và thiệt hại Năm 2006, Tô chức Bảo vệ Thực vật Châu Âu (EPPO) cho rằng sự hiện diện của vi khuân P. stewartii đã được báo cáo ở một số địa điểm riêng biệt của Nam và Trung Mỹ, Châu Âu và Châu Á.