Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Một số khái niệm về cỏ dai 1.1 Định nghĩa về cé dại Co dai là những thực vật mọc tự nhiên trên đồng ruộng, ven đường, bãi đất hoang. Ở những khu đất canh tác, cỏ dại có ảnh hưởng xấu tới quá trình sinh trưởng, năng suất, phẩm chat của cây trồng, gây tốn kém trong chi phí sản xuất (Hà Thị Hiến, 2001). Theo Đỗ Thị Kiều An (2010), cỏ đại là những loài thực vật bản địa hay ngoại lai mà sinh trưởng, phát triển ngoài ý muốn của con người hoặc ảnh hưởng bat lợi đến lợi ích của họ.2 Phân loại cỏ dại 1.1 Phân loại theo chu kỳ sinh trưởng Theo Nguyễn Hữu Trúc (2011) cho biết, cỏ đại được chia ra làm 3 nhóm phân theo chu kỳ sinh trưởng gồm: Có hang niên (một năm), là các loài cỏ hoàn thành vòng đời trong một hoặc hai mùa canh tác trong một năm hoặc ít hơn. Một số đặc tính chung của cỏ hằng niên là chúng sinh sản mạnh, sản xuất ra hạt giống nhiều, có mật độ dày, dé phát tán và hạt thường có miên trạng.
Cỏ nhị niên (hai năm), kết thúc chu kỳ sống trong vòng 2 năm, năm đầu tiên cây sinh dưỡng hoàn toàn, năm thứ 2 cây bắt đầu sinh dục. Cỏ đa niên (nhiều năm), chu kỳ sống trên 2 năm. Hằng năm số lần ra hoa kết trái có thé thay đổi từ không đến vài lần tùy theo điều kiện sinh sống.2 Phân loại theo khả năng thích ứng với hàm lượng nước trong đất Theo Đỗ Thị Kiều An (2010), cỏ đại được phân ra làm 3 loại dựa theo khả năng thích ứng với hàm lượng nước trong đất như sau: Cỏ ưa cạn: co có kha năng chịu được điều kiện khô hạn khắc nghiệt. Vi dụ: cỏ gấu (Cyperus rotundus), rau sam (Portulaca oleracea), cỏ cũ (Cyperus rotundus).
Cỏ chịu han: nhóm này là những loài cỏ thích âm nhưng có khả năng chịu han được trong một thời gian tương đối đài (1 mùa khô 6 tháng). Vi du: cỏ tranh Umperata cylindrica), cỏ đuôi chồn (Sefaria spp. Cỏ ưa nước: những loài cỏ phát triển mạnh ở đất bão hòa hoặc có mực nước trên mặt dat như cỏ sông nôi trên mặt nước, cỏ có thân lá không vượt ra khỏi mặt nước, cỏ có rễ cắm sâu vào đất và thân lá vượt lên khỏi mặt nước.3 Phân loại theo phương thức sinh sống Theo Nguyễn Hữu Trúc (2011) có thé chia làm 2 nhóm: Nhóm cỏ ký sinh: là những loài thực vật thiếu đi một trong các bộ phận như lá, thân, rễ nên chúng phải sống dựa vào cây ký chủ. Nhóm cỏ không ky sinh: là những loài có đủ cơ quan sinh dưỡng dé tự tổng hợp chất hữu cơ cần thiết cho quá trình sống.4 Phân loại theo số lá mầm Cỏ một lá mầm: hạt chỉ có một tử diệp, cây tăng trưởng thành cỏ lá hẹp; gân lá song song, lá mọc hơi xiên hay đứng, rễ chùm.
Đỉnh sinh trưởng bọc kín trong bẹ lá như cỏ lông vực, mân trâu, đuôi phụng, lúa cỏ. Cỏ hai lá mam: hạt có hai tử diệp, lá thường rộng, gân lá hình lông chim, mỏng, mém, ít lông, rễ thường là rễ coc, ăn sâu, điểm sinh trưởng lộ ra ngoài, hoa nhiều cánh rõ rệt: rau mương (Ludwigia octovalvis), cỏ phông (Sphenoclea zeylanica).5 Phân loại theo đặc điểm hình thái Dựa vào đặc điểm hình thái có thể phân loại cỏ dại làm 3 nhóm: Nhóm cỏ hòa bản: Có rễ chùm, mọc nông. Thân thảo, hình tròn hoặc oval, rong, có phân đốt. Có bẹ lá và phiến lá hẹp, gân lá song song, lá mọc cách theo nhiều hướng khác nhau.
Nhóm cỏ chác lác: Có rễ chùm, mọc nông. Thân thảo, hình tam giác, đặc ruột, không phân đốt, không có be lá, phiến lá hẹp, gân lá song song, lá mọc thành 3 hướng. Nhóm cỏ lá rộng: Có rễ cọc, ăn sâu vào đất. Thân thảo hoặc thân gỗ, có nhiều hình đạng khác nhau.
Lá rộng và có nhiều hình dạng khác nhau, gân lá hình lưới.6 Phân loại theo hệ thống thực vật Cỏ dại được chia thành bộ, họ, chi, loài. Don vi phân loại cơ sở là loài (Species). Loài là tập hợp của nhiều cá thể cùng bắt nguồn từ một tô tiên chung, trải qua quá trình đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên mà cách ly với các sinh vật khác, các cá thể nảy có thé giao phối tự nhiên với nhau sinh ra các thé hệ con cái có khả năng sinh sản. Những loài có tính chất giống nhau, có tổ tiên chung tập hợp lại thành một đơn vị lớn hơn gọi là chi (Genus), nhiều chi giống nhau hợp thành ho (Family), nhiều họ giống nhau hợp thành bộ (Order) (Đỗ Thị Kiều An, 2010).3 Thiệt hại có dai gây nên cho cây trồng Cỏ đại xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc và là mối quan tâm của tất cả mọi người, gây ra tồn thất lớn cho nông nghiệp.
Cỏ đại không chỉ gây can trở hoạt động sản xuất nông nghiệp và làm gia tăng chi phí sản xuât ma còn ảnh hưởng dén sức khỏe cộng đông và gây khó khăn cho việc bảo trì các công trình xây dựng, nhà cửa, cảnh quan. Theo tải liệu của FAO năm 2009, thiệt hại do cỏ dại gây ra hàng năm trên thế giới có thé nuôi sống 100 triệu người mỗi năm. Kết quả nghiên cứu của tổ chức môi trường Land Care of New Zealand cho thấy cỏ dại gây thiệt hại lên tới 95 tỉ USD cho sản xuất lương thực trên toàn cầu, so với mức 85 tỷ USD do dịch bệnh, 46 tỷ USD do sâu bọ phá hai và 2,6 tỷ USD do động vật, không ké do con người phá hoại.1 Làm giảm năng suất cây trồng, gia tăng chỉ phí sản xuất Năng suất cây trồng giảm có liên quan trực tiếp với sự cạnh tranh của cỏ đại. Sự gia tăng của 1 kg khối lượng cỏ dại tương đương với việc giảm 1 kg khối lượng cây trồng (Nguyễn Hữu Trúc, 2011).
Cỏ dại tranh chấp ánh sáng, nước, dinh dưỡng và carbon dioxide dẫn đến làm giảm năng suất cây trồng. Trong quá trình chọn lọc tự nhiên 5 cỏ đại đã hình thành nhiều đặc điểm sinh học đặc biệt như có bộ rễ phát triển mạnh ăn sâu và rộng hơn, nồng độ dịch bảo lớn hơn. Chính vì vậy khả năng hút dinh dưỡng và nước của cỏ đại lớn hơn cây trồng rất nhiều. Tuy nhiên, tùy theo những điều kiện khác nhau mà cỏ đại làm cho năng suất cây trồng giảm nhiều hay ít (Đỗ Thị Kiều An, 2010).2 Cỏ dại tiết ra các chất hóa học ức chế sự sinh trưởng, phát triển của các loài thực vật khác (allelopathy) Một vai loài cỏ dại có khả nang hạn chế sự cạnh tranh của các loài khác bằng cách tiết ra các hóa chất độc hại ức chế sự sinh trưởng, phát triển bình thường của các loài thực vật khác gọi là hiện tượng “a//elopa/hy” (sự cảm nhiễm qua lai).
Sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng giảm mạnh trong những trường hợp này. Ví dụ: cỏ tranh, loài cỏ phổ biến trên đất thoát nước kém, cản trở khả năng tái sinh của rừng, làm ức chế sự phát triển của đậu Stylo Stylosanthes guianensis (cây thức ăn gia súc), kê đuôi chồn Seraria italica, cỏ ba lá Medicago polymorpha và thông Pinus roxburghii (Anjum và ctv, 2005). Hay như rễ của loài cỏ Broomrape có thé tiêu diét đậu và rau xanh, không chỉ làm thất thu vụ thu hoạch đó, mà còn làm cho đất mắt khả năng canh tác trong nhiều năm (Đỗ Thị Kiều An, 2010).3 Có dại là ký chủ của sâu bệnh Cỏ dai là nơi trú ân của sâu bệnh hại và là nơi trú ấn của chuột. Các loài cỏ đại cùng họ, bộ với cây trồng là ký chủ rất tốt của sâu bệnh hại trên những cây trồng tương ứng.
Ví dụ: Cỏ lồng vực Echinochloa crus-galli là ky chủ phụ của nam Colletotrichum graminicola gây bệnh than thư, Cercosporafujimaculans gây bệnh dém lá, Exserohilum monoceras gây rui lã, Rhizoctonia solani gây bệnh héo cây con và Ustilago crus-galli gay bệnh than den, ray nâu hại lúa Nilaparvata lugens. Cỏ gà (cỏ chi) Cynodon dactylon là ky chủ của nam Puccinia graminis gây bệnh gi sat, Helminthosporium sp. gây bệnh đốm lá, Bipolaris, Leptosphaeria sp., Xanthomonas cynodontis, virus gây bệnh vàng lùn lúa mạch, bệnh virus sọc lá lúa và bắp, các loài tuyến trùng, đặc biệt là tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne spp., sâu đất Spodoptera spp., sâu kéo màng Herpetogramma licarsisalis (Đỗ Thị Kiều An, 2010).4 Ảnh hưởng đến chất lượng nông sản Theo Đỗ Thị Kiều An (2010): Có một số loài cỏ dai nếu gia súc ăn phải sẽ làm giảm chất lượng sữa và thịt. Ví dụ việc nuôi cừu lấy lông thả trên đồng ruộng có cây ké đầu ngựa, hạt cỏ đính vào lông cừu làm giảm chất lượng lông cừu thương phẩm; hạt cỏ Parthenium lẫn vào hạt giống cỏ làm thức ăn gia súc làm giảm chất lượng hạt giống và bị cắm trao đổi buôn bán ở những vùng chưa bị nhiễm loài cỏ này.
Hoặc hạt và đoạn gay của thân cỏ có độ am cao lẫn trong hat cây trồng sau thu hoạch, tiếp tục hô hấp làm cho hạt nông sản nóng lên và có thể bị thối.5 Giảm hiệu quả của quá trình thu hoạch Việc cỏ dai phát triển trong thời gian thu hoạch sẽ làm cho quá trình thu hoạch bị chậm lại, nhất là đối với các nước có nền nông nghiệp tiên tiến và vùng thu hoạch bằng cơ giới. Cỏ dại cũng gây tốn thất nông sản trong khi thu hoạch đo bị che khuất, vướng víu ở một số khu vực cỏ phát triển mạnh thì mật độ cỏ dại cao còn làm tăng chi phí đồ bảo hộ lao động trong khi thu hoạch.2 Phân loại và đặc điểm thực vật học của cỏ man trầu Tên khoa học: Eleusine indica [L.] Gaerth Họ thực vật: Hòa Thảo - Poaceae Tên Việt Nam: cỏ man trầu Tên nước ngoài: goosegrass, wiregrass, Indian goosegrass (Anh) Tên khác: cỏ vườn trâu, cỏ mang trâu, thanh tam thao, nguu tâm thao, sam tự thảo, tất suất thảo, cỏ dang, nha hút (Thai), hang ma (Tay), hia xú san (Dao). Cỏ man trầu thường xuất hiện ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như: Campuchia, Lào, Trung Quốc. Ở nước ta, cỏ man trầu thường mọc ở các đồn điền cao su, ruộng rau, vườn cây ăn qua, lúa cạn, đất bỏ hoang ngắn hạn.
Cỏ man trầu làm mat năng suất của cây trồng và được coi là một trong những loài cỏ dại gây hại nghiêm trọng trên thế giới do khả năng thích nghi và chịu đựng mạnh mẽ đối với các yếu tố môi trường. Ngoài ra, cỏ man trầu còn là nguồn thức ăn cho gia súc, ding dé làm thuốc (toàn cây), mùa thu hái gần như quanh năm (Nguyễn Thị Vân, 2013).