Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cỏ dại 1.1 Định nghĩa về cỏ dai Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cỏ dai tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thé nơi cỏ dai xuất hiện và đối tượng cây trồng liên quan. Cỏ dai là “những thực vật gây phiền toái cho con người” (Harper, 1960) hay “những thực vật mọc ở nơi con người không mong muốn” (Salisbury, 1961) hoặc là “những thực vật ngoại lai xâm lấn” (Babour và ctv 1999). Theo Đỗ Thị Kiều An (2010), cỏ đại là những loài thực vật bản địa hay ngoại lai sinh trưởng, phát triển ngoài ý muốn của con người. Sự hiện diện của chúng gây khó chịu và can trở các hoạt động của con người hoặc ảnh hưởng bat lợi đến lợi ích của họ.
Co dại là những cây mọc không theo ý muốn trên diện tích canh tác mà con người tác động lên, bên cạnh những cây trồng nông nghiệp (Nguyễn Hữu Trúc, 2011).2 Tình hình nghiên cứu phòng trừ cỏ dai trên thế giới và trong nước 1.1 Nghiên cứu phòng trừ cỏ đại trên thế giới Trước những thiệt hại do cỏ dại gây ra nhiều năm trở lại đây các nhà khoa học Mỹ đã đầu tư nghiên cứu về cỏ dai cố gắng đưa ra các biện pháp quản lý cỏ dại tối ưu nhất mà ít tác động đến hệ sinh thái. Nghiên cứu mới nhất là sử dụng các vi sinh vật trong đất dé khống chế sự tồn lưu các hạt cỏ trong đất hoặc sử dụng các vi sinh vật dé tre ché su nay mam của hat cỏ, một số vi khuẩn có thé ăn cacbon va chất dinh dưỡng khác có trong đất hoặc sử dụng các enzyme hoạt tính hoặc các phương thức khác đề xâm hại hạt giống cỏ lấy đi dinh dưỡng gây sâu và làm phân rã giống cỏ. Kết hợp với việc sử dụng các máy cảm biến quang phổ và tia hồng ngoại, các thuật toán va phân tích hình ảnh có thé phân biệt cỏ đại với cây trồng mặc dù chúng rất giống nhau ở giai đoạn dau, chính nhờ sự phát hiện trong giai đoạn đầu nên việc sử dụng thuốc diét cỏ có hiệu quả hơn. Phương pháp này được kiểm chứng đầu tiên ở một cánh đồng bắp (Suszkiw, 2006).
Kiểm soát cỏ dai sử dụng các sinh vật sống như côn trùng, tuyến trùng dé làm giảm số lượng cỏ dại. Côn trùng và tuyến trùng ăn trực tiếp vào rễ cỏ dại gây tôn thương tạo điều kiện cho vi khuẩn và nam xâm nhập gây hại lên cỏ, côn trùng ăn lá làm giảm điện tích bề mặt lá làm cho cỏ chậm phát triển (bọ vòi voi (Bruchi) được dùng để kiểm soát lục bình), côn trùng và nam tan công hạt cỏ lưu tồn trong dat làm giảm quan thé cỏ xuất hiện trong tương lai. Một số nghiên cứu đã tạo ra thuốc trừ cỏ sinh học lấy độc tố của một số loại nắm và vi khuẩn sau khi phân lập nam và vi khuẩn được nuôi cấy trên môi trường dé cho các tác nhân tiết độc tố như phytotoxin (Kremer, 2005).2 Nghiên cứu cỏ dại ở Việt Nam Việt Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật, nước ta là một trong những nước có chủng thực vật phong phú bậc nhất thế giới với khoảng 12.000 loài và được phân bố khắp các vùng trong cả nước (Phạm Hoàng Hộ, 1999). Theo Dương Văn Chín (1995) có khoảng 400 loài cỏ dại đã xuất hiện ở Việt Nam trong đó họ Poaceae và họ Cyperaceae là hai họ gây hại lớn nhất với 167 loài.
Cỏ dai trên cây trồng cạn rất đa dạng về loài và mật số, chúng phát triển rất nhanh, có sức cạnh tranh và mức gây hại nghiêm trọng đối với cây trồng. Các loài cỏ dại phô biến như: lồng vực cạn (Ecololum), co chắc (Emilliaceae), cỏ than ngầm như cỏ cú (Rotundus), sinh sản vô tính mạnh như cỏ chỉ (C. dactylon) và đặc biệt là có man trầu (Eleusine indica) là những loại cỏ được đặt biệt chú ý bởi khả năng gây hại nghiêm trọng.2 Phân loại cỏ dại 1.1 Phân loại theo khả năng thích ứng với hàm lượng nước trong dat Theo Trần Văn Hai (2009), co dại được chia làm 3 loại dựa theo kha năng thích ứng với hàm lượng nước trong đất như sau: Cỏ ưa nước: cỏ nhóm này phát triển mạnh ở đất bão hòa hoặc có mực nước cao trên mặt đất như: cỏ sống nổi trên mặt nước, cỏ có thân lá không vượt ra khỏi mặt nước và cỏ có rễ cắm sâu vào đất. Cỏ chịu hạn: cỏ thích âm nhưng có khả năng chịu hạn được trong một thời gian tương đối dai (6 tháng mùa khô).
Cỏ ưa hạn: cỏ có khả năng chịu được điều kiện khô hạn khắc nghiệt như cỏ cú (Cyperus rotundus).2 Phân loại theo hệ thống phân loại thực vật Cỏ dai được chia thành bộ, ho, chi, loài. Don vi phân loại cơ sở là loài (species). Loài là tập hợp của nhiều cá thé cùng xuất phát từ một tô tiên chung, trải qua quá trình dau tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên mà cách ly với các sinh vật khác, các cá thé này có thé giao phối tự nhiên với nhau sinh ra các thé hệ con cái có khả năng sinh sản. Những loài có tính chất giống nhau, có tổ tiên chung tập hợp lại thành một đơn vị lớn hơn gọi là chi (genus), nhiều chi giống nhau hợp thành họ (family), nhiều họ giống nhau hợp thành bộ (order).
Ngoài ra còn có các bậc trung gian như dưới loài có thứ và dạng, giữa chi và loài có loạt hay dãy, giữa họ và chi có tông hay các bậc phụ được ghi thêm chữ sub- dé chỉ các bậc trung gian thấp hơn, super- dé chỉ bậc cao hơn (Đỗ Thị Kiều An, 2010).3 Phân loại theo số lá mầm Cỏ 1 lá mầm Theo (Chu Thị Thơm va ctv, 2006) nhóm cỏ 1 lá mầm gồm các loại cỏ thuộc họ hòa thảo và cói lác: Cỏ hòa thao (grasses) có đốt đặc, long rỗng, thân tròn hoặc dep, thân không có sự phân hóa ra miễn vỏ và miền trụ, có hệ rễ chùm do rễ chính không phát triển. Lá thường không phân biệt cuống, nhiều khi có gốc phát triển thành bẹ, đôi khi thành tai lá. Lá nọ mọc đối nối tiếp lá kia từ đốt. Lá dài và hẹp, gân lá song song.
Lá sắc, có nhiều lông. Dinh sinh trưởng được boc kin trong be lá. Phôi có 1 lá mam, hoa thường mau 3, đôi khi mâu 2, rat ít khi mau 4, không có mâu 5. Cỏ cói lac (cuperusiria) có thân thường hình tam giác và đặc ruột, không phan biệt bẹ lá và phiến lá, lá không có tai lá hoặc lưỡi be, lá đính trên thân theo 3 hang từ 3 phía quanh thân, phần gốc của các lá hình thành một ống bao quanh thân, lá dài và hẹp, gân lá song song, lá mềm và mỏng, đỉnh sinh trưởng được bọc kín trong bẹ lá, có một số loài cỏ dại một lá mầm nhưng có những đặc điểm khác trên: cỏ trạch tả hay mã đề nước (Plantago major L.
Có 2 lá mầm Lá thường rộng, nằm ngang, mềm và ít lông, lá thường có cuống, gân lá hình mạng lưới, có hệ rễ cọc do rễ chính phát triển cùng với các rễ bên, đỉnh sinh trưởng lộ ra ngoài, phôi có 2 lá mam, hoa mẫu 5, đôi khi mẫu 4, thân có sự phân hóa ra miền vỏ và miễn trụ (Chu Thị Thơm và ctv, 2006).4 Phân loại dựa theo đặc điểm thân cành Tùy thuộc vào sự phát triển mô gỗ trên thân và nhánh, cỏ có thé được chia thành các nhóm: cỏ thân thảo, thân gỗ, thân bụi, thân bụi leo và thân leo (Đỗ Thị Kiều An, 2010). Cây thân thảo: các loài cỏ thuộc nhóm này có thân nằm trên mặt đất, thân cây không hóa gỗ, chết lui vào thời kì tạo qua. Vi dụ: mã dé, cỏ man trau. Cây thân gỗ: các loài thuộc nhóm này sống nhiều năm, có thân sinh trưởng thứ cấp hóa gỗ, thân chính phát triển mạnh, trên thân chính phân cành và chồi măng vòm lá.
Thân chính của cây gỗ to, nhỏ, cao, thấp, có cảnh nhánh nhiều hay ít tùy thuộc vào từng loài. Ví dụ: bạch dương (Populus alba), nữ trinh tử (Ligustrum lucidum). Cây thân bụi: thuộc nhóm này gồm các loài thân gỗ nhiều năm, thân chính không có hoặc kém phát triển, cảnh nhánh bắt đầu từ gốc của thân chính. Chiều cao của cây bụi thường không vượt quá 7 m.
Ví dụ: ngũ sắc (tram ôi) Lantana camara, mai dương (trinh nữ thân gỗ, trinh nữ móc) Mimosa pigra. Cây thân bụi leo: nhóm này gồm những cây bụi có cành hóa gỗ dựa vào những cây khác dé leo lên như: dây bông giấy (Bougainvillea spectabilis). Cây thân leo: nhóm này gồm các loài có tua cuống mềm, không mọc thang đứng được phải dựa vào các cây khác hoặc vật khác làm giá đỡ (nhờ các cơ quan đặc biệt như tua cuốn, day móc, rễ phụ, nhánh hoặc lá) như: bìm bìm (Impomoea cairica). Việc phân biệt cỏ thân thảo và thân bụi, thân gỗ là rất cần thiết trong công tác quản lý cỏ đại vì biện pháp kiểm soát các nhóm cỏ này hoàn toàn khác nhau.3 Tác hại của cỏ dại và một số biện pháp phòng trừ cỏ dai 1.1 Tác hại của cỏ dai Cỏ dai làm giảm năng suất và phâm chat cây trồng.
Cây trồng bị cỏ đại lấn áp, tranh giành ánh sáng, nước và chất dinh dưỡng làm cho cây trồng sinh trưởng kém, cho năng suất thấp. Mặt khác, do phải tốn nhiều công lao động trong trừ cỏ dại từ đó làm tăng chi phí trong sản xuất, dẫn đến việc tăng giá thành sản phẩm. Đối với cây trồng ngắn ngày thì yêu tô ánh sáng có vai trò rất lớn quyết định rất lớn (90 — 95%) năng suất của cây. Tuy nhiên, sự tranh chấp ánh sáng của cỏ dại làm cho năng suất cây trồng giảm sút, sinh trưởng chậm từ đó chất lượng sản pham mang lai kém di (Chu Thi Thom va ctv, 2006).
Ngoài ra, cỏ dai là ky chủ của sâu bệnh và là nơi trú ân của chuột. Cỏ dai còn gây cản trở dòng chảy, gây khó khăn cho sản xuất thủy sản. Ví dụ: Các cụm bèo cái (Pistia stratoides). Cỏ dại gây ảnh hưởng đến công nghiệp và các công trình công cộng vì dé gây cháy cho các khu công nghiệp trong mùa khô, gây hao mòn và hư hỏng máy móc.
Cỏ đại cạnh tranh nước và dinh dưỡng với cây rừng làm cho cây rừng sinh trưởng can cỗi, gây thiệt hại cho rừng và các sản phẩm làm bằng gỗ.