CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây dưa lưới 1.1 Nguồn gốc, phân bố Dưa lưới (Cucumis melo L.) thuộc họ bau bí (Cucurbitaceae) là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất khá cao. Theo một số tài liệu nghiên cứu, cây dưa có nguồn gốc ở châu Phi. Nhà truyền giáo David Livingstone (1857) đã phát hiện hai loại dưa ngọt và dưa đắng hoang đại sinh trưởng ở châu Phi. Ông dé Ý thấy người địa phương dùng chúng như nguồn nước trong mùa khô.
Ở vùng cận nhiệt đới châu Phi vẫn còn những vùng dưa hấu rộng lớn cho tới ngày nay. Cây dưa lưới lần đầu tiên được Cristoforo Colombo đưa đến Bắc Mỹ trên hành trình lần thứ hai của ông đến tân Thế giới vào năm 1494. Cây dưa mới xuất hiện ở nước ta khoảng 10 năm trở lại đây. Dưa lưới đã được thích nghi với khí hậu nước ta, cho kết quả tốt, nhân dân ta tự để giống được.
Tuy vậy, mùi thơm và vi ngọt giảm, màu sắc không thuần, nhất là loại dưa trắng, vỏ lại có lẫn một chút màu vàng. Một trong những nguyên nhân là người trồng chưa có công thức phân bón đúng và phù hợp.2 Đặc điểm thực vật học Bộ rễ dưa phát triển rất yếu, rễ chỉ phân bố ở tầng đất mặt 30-40 em. Bộ rễ chính tương đối phát triển, phân bó chủ yếu ở tầng canh tác có độ sâu từ 0 đến 30cm, rộng 50 — 60 cm. Nếu đất tơi xốp rễ chính có thé ăn sâu từ 60 — 100 cm, nếu trong điều kiện lí tưởng (đất có tầng canh tác dầy, nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí) thì rễ có thể ăn sâu nữa (Kerje và Grum, 2000).
Theo (Nguyễn Xuân Linh, 1998), rễ cây dưa lưới thuộc loại rễ chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát triển theo chiều ngang. Đầu chóp rễ có sức phân nhánh mạnh, trong điều kiện đất thích hợp thì rất nhanh hình thành bộ rễ có nhiều nhánh, sẽ có lợi cho sự hút nước và dinh dưỡng. Những rễ nay mọc ở mau thân của cây còn gọi là mắt, ở những phan sát trên mặt đất. Thuộc loại thân thảo có đặc tính leo bò.
Thân thảo hằng niên, thân dài, có nhiều tua cuốn dé bám khi bò. Thân trên lá mầm va long thân trong điều kiện âm độ cao có thé 3 thành lập nhiều rễ bat định. Thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít hay nhiều tuỳ thuộc vào giống. Thân chính thường phân nhánh, cũng có nhiều dạng dưa lưới hoàn toàn không thành lập nhánh ngang.
Thời kì có 1 đến 2 lá thật cây ở trên trang thái đứng, đốt ngắn, thân mảnh. Thời kì ra hoa, thân rễ phát trién mạnh nhất, tốc độ sinh trưởng nhanh, long dài. Đến cuối đời cây già và thân đạt độ dài tối đa biến động từ 5 — 10 m (Miccolis và Saltveit, 1991). (VanRuiten va cs, 1984), thi chiéu dai than cây, mức độ phan nhánh, độ mềm hoặc độ cứng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống.
(Vanderkamp, 2000), thân có đốt dài hay ngắn, sự phân nhánh mạnh hay yếu còn tùy thuộc vào từng giống, giống cao nhất có thể cao trên 3m. Lá dưa lưới gồm có lá mầm và lá thật. Lá mầm: (nhú ra đầu tiên) có hình trứng tròn dài làm nhiệm vụ quang hợp tạo vật chất nuôi cây và lá mới. Là cây 2 lá mầm (Dicotyledonace), 2 lá mầm đầu tiên mọc đối xứng nhau qua đỉnh sinh trưởng, hình trứng.
Lá thật là những lá mọc cách trên thân chính, có màu xanh thẫm, có độ lớn tối đa vào thời kì sinh trưởng mạnh ra hoa rộ, dạng lá hơi tam giác (hình chân vịt 5 cạnh) 2 mặt phiến lá đều có lông, với cuống lá đài 5-15 cm; ria nguyên hay có răng cưa. Trên lá và cuống lá có lớp lông phủ dày, lớp lông này có tác dụng bảo vệ và chống thoát hơi nước (Szamosi, Solmaz, Sari và Barsony, 2010). Hoa cái moc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt, hoa đực mọc thành cum 5-7 hoa. Dưa lưới cũng có hoa lưỡng tính, có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây.
Hoa có màu vàng, thụ phan nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở. Số lượng hoa trên cây khác nhau, sắp xếp hoa đực và hoa cái khác gốc (Fanourakis, Tsekoura và Nanou, 2000; Wyllie và Leach, 1992). Quả hình tròn hoặc hình thuôn, nặng trung bình 0,4 đến 2,2 kg, bề mặt có vân lưới bao phủ bởi các sợi lông tơ nhỏ, màu sắc vỏ quả từ trăng, xanh đên vàng. Quả mọng nước có vị thanh (Phan Quang Hương, 2018).3 Giá trị dinh dưỡng của dưa lưới Dưa lưới có lớp vỏ dày, ruột mọng nước chứa đến 88% nước.
Ngoài ra, hàm lượng Kali (300 mg/100g) đáng ké với tính năng thanh lọc, lợi tiêu, chất xơ (1g/100g) ít Calo (48 Kcal), beta carotene va vitamin C. Thành phan dinh dưỡng của dua lưới có chứa chat chống oxy hóa dang polyphenol, có khả năng phòng chống ung thư, tăng cường hệ miễn dịch, nhiều chất xơ nên có tác dụng nhuận trường và là nguồn phong phú beta - carotene, acid folic, kali và vitamin C, vitamin A giúp điều hòa huyết áp, ngừa sỏi thận, lão hóa xương. (Nuxnez và cs, 2008) Nhờ hàm lượng dinh dưỡng lớn mà dưa lưới mang lại rất nhiều lợi ích đối với sức khỏe con người. Giúp ngăn ngừa một số loại ung thư, cải thiện thị lực, chống lại bệnh tiéu đường và hỗ trợ giảm cân hiệu quả.4 Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng Cũng như các loại dưa khác, khi trời âm u ít ánh sáng lại có mưa phùn thì cây con (2-3 lá that) dé bi mắc bệnh thối nhũn, lở cô rễ.
Cây dưa phát triển kém trong điều kiện ánh sáng yếu, nhiệt độ cao, đặc biệt giảm tỷ lệ đậu quả, phẩm chất giảm. Dat khong thong thoáng, bị che lap ánh sáng không nên trồng dưa lưới. Độ ẩm dat thích hợp 75-80%. Dưa vân lưới ưa thời tiết mát mẻ, không trồng được ở vụ có nên nhiệt độ cao, thời kỳ quả đậu được 15-20 ngày không được tưới quá am và không dé đọng nước.
Nhiệt độ thích hợp 17-33 °C, phạm vi tối thích tương đối rộng cho nên có thé gieo trong ở hầu hết các tháng trong năm trừ những ngày giá rét (<15 °C). Do đó thời vụ gieo trồng cây này có thê kéo dài từ giữa mùa xuân tới giữa mùa thu hằng năm. Dưa ưa đất thịt nhẹ và cát pha nhất là đất phù sa, đất cát pha và thịt nhẹ vừa thoát nước tốt, giữ được dinh duéng vừa điều hòa được nhiệt độ đất, thúc day quá trình phát dục giúp dưa nhanh có quả, màu sắc đẹp và chất lượng ngon. Đất trồng dưa lưới cần chọn đất chân cao, dat tốt, đất thịt nhẹ hay cát pha.
Dat xấu, đất cát cần tăng thêm phân bón lót và tăng thêm phân bón thúc. Dat sét, đất thịt nên xới xáo nhiều hơn và bón tăng phân hữu cơ. Đất cần luôn 4m, song lại phải thật thoát nước. Sau mỗi trận mưa rào, nước cần được tháo bỏ nhanh.
Khi trồng dưa lưới trên giá thé thì yêu cầu giá thé phải tơi xốp và phải 5 được xử lý trước khi phối trộn dé đảm bảo không còn chứa nguồn bệnh và các chất gây hại cho cây dưa lưới như chất tannin có trong mụn dừa (Phạm Hồng Cúc, 2003).2 Sơ lược về các loại giá thể 1.1 Xơ dừa Xo dừa chính là thành phan được lay ra từ vỏ của trai đừa được xé ra. Ngoài việc là nguyên liệu chính trong việc dét thảm xơ dừa thì nó còn có nhiều tác dụng khác như: Chống xói mòn, phủ lên bề mặt chống nóng, tăng độ âm khi trộn xơ dừa với đất, tạo điều kiện cho đất tơi xốp, kích thích sự phát triển của rễ. Đối với nông nghiệp, xơ dừa được ứng dụng rộng rãi trong việc che chắn, che phủ bề mặt khi thời tiết nóng bức cho cây trồng. Bởi nhiệt độ và ánh sáng khi phản chiếu trực tiép dưới dat sẽ làm ảnh hưởng lớn đên cây trông cũng như rạn nut dat và làm xói mòn.
Xo dừa có rất nhiều tác dụng đối với đời sống con người được ứng dụng nhiều trong sản xuất. Ngoài ra, xơ đừa khi trộn với các chất hữu cơ cũng như với đất là liều chất ủ cho độ ẩm rất tốt và hiệu quả. Hễn hợp này có tác dụng giữ được độ am, là điều kiện tiếp xúc làm cho đất thêm tơi xốp. Tuy nhiên xơ đừa có tác dụng tốt nhưng trong xơ dừa vẫn chứa nhiều chất chát, chất này nếu không ủ kỹ xơ dừa thì khi sử dụng sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng, đặc biệt là đối với bộ rễ của cây.
Làm ảnh hưởng đến sự phát triển rễ của cây.2 Cát san lấp Dat cát san lap là loại đất được dé san phẳng mặt bằng gồ ghé. Loại đất này có chứa nhiều tạp chat, dé thâm nước nên có thé trồng cây. Tuy nhiên, muốn cây trồng tươi tốt thì cần phải tăng độ dinh dưỡng cây mới lớn và đâm hoa kết trái. Đất cát san lắp thường có thành phan 35% cát, phù sa và đất sét chiếm ít hơn 15%.
Thành phan chủ yếu là các hat đất, hạt sỏi sạn,. Sử dụng đất cát san lắp được sử dụng nhiều trong trồng trọt trong vài năm trở lại đây. Vì chất dat dé đào xới và có thé trồng cây sớm hơn vào vụ xuân so với các dang đất khác. Dat cát cũng không lo bị ảnh hưởng bởi sương lạnh so với đất sét.
Trồng trot cây ăn quả, rau củ trên đất cát nhanh thu hoạch. Đồng thời, việc chăm bón, nhồ cỏ cũng dễ dàng thực hiện hơn. Do đó, nhiều người nông dân đã sử dụng đất cát san lắp đề trồng trọt, chăn nuôi.3 Sơ lược về các loại phân bón hữu cơ Theo Bùi Huy Hiền phân hữu cơ được chia thành 2 nhóm: Phân hữu cơ truyền thống (Phân chuông, phân rác, than bùn, phân xanh, bùn ao, bùn hồ, bùn sông, nước phù sa, khô dầu, tro) và phân hữu cơ công nghiệp (phân hữu cơ chế biến, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, phân hữu cơ vi sinh). Phân hữu cơ có ưu điểm là chứa đầy đủ các nguyên tố dinh đưỡng đa, trung và vi lượng mà không một loại phân khoáng nào có được (Bùi Huy Hiền, 2011).
Ngoài ra phân hữu cơ còn cung cấp chất mun làm kết cau của đất tốt lên, tơi xóp hơn, bộ rễ phát triển mạnh, hạn chế mat nước trong quá trình bốc hơi từ mặt đắt, chống được hạn và chống XÓI mòn.4 Tình hình sản xuất và nghiên cứu dưa lưới trên thế giới và Việt Nam Bảng 1.