Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành sản xuất rau quả tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong nhóm cây ăn quả ngắn ngày, cây dưa lưới (Cucumis melo L.) thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) là đối tượng cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao, có thời gian sinh trưởng ngắn và khả năng bố trí nhiều vụ canh tác trong năm. Trong mô hình canh tác công nghệ cao trong nhà màng, bộ rễ dưa lưới có vai trò quyết định khả năng hấp thu dinh dưỡng và nước, đồng thời quyết định năng suất và chất lượng quả. Trong điều kiện lý tưởng với tầng canh tác tơi xốp và thoáng khí, rễ chính của dưa lưới có thể ăn sâu từ 60 đến 100 cm.
Hiện nay, xơ dừa là loại giá thể hữu cơ được sử dụng phổ biến nhất trong canh tác dưa lưới dạng bầu. Tuy nhiên, giá thành nguyên liệu xơ dừa ngày càng tăng cao và nguồn cung thiếu ổn định, tạo áp lực lớn lên chi phí sản xuất khi mở rộng quy mô. Việc tìm kiếm các loại vật liệu sẵn có, chi phí thấp như cát san lấp để phối trộn thay thế một phần xơ dừa là yêu cầu thực tiễn cấp bách. Bên cạnh hệ thống dinh dưỡng hòa tan cung cấp qua đường tưới nhỏ giọt, việc bón lót bổ sung phân bón hữu cơ vào gốc là giải pháp quan trọng nhằm cải thiện cấu trúc rễ, nâng cao độ phì sinh học của giá thể và tăng sức chống chịu của cây.
Khóa luận được triển khai nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu: Chọn lựa công thức phối trộn giá thể và loại phân bón hữu cơ phù hợp nhất với sự phát triển hệ thống rễ, giúp cây dưa lưới sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và mẫu mã đẹp.
- Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:
- Bố trí thí nghiệm, chăm sóc và theo dõi chính xác các chỉ tiêu thời gian sinh trưởng, phát triển của cây dưa lưới trong điều kiện nhà màng.
- Đánh giá chi tiết các chỉ tiêu phát triển bộ rễ ở giai đoạn cây con (số rễ, chiều dài rễ, tổng chiều dài rễ, tốc độ sinh trưởng rễ, trọng lượng rễ tươi và rễ khô).
- Đánh giá mối tương quan giữa sự phát triển của hệ thống rễ với các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá, phẩm chất và các yếu tố cấu thành năng suất quả.
- Đối tượng nghiên cứu: Giống dưa lưới mật TU3 nhập khẩu từ Đài Loan; 4 công thức phối trộn giá thể giữa mụn xơ dừa và cát san lấp; 3 loại phân bón hữu cơ (phân gà hữu cơ vi sinh Đồng Thành Công, phân trùn quế nguyên chất, phân bò hoai mục Quế Lâm).
- Phạm vi nghiên cứu: Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh; thời gian thực nghiệm từ tháng 12/2021 đến tháng 05/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở sinh lý thực vật và đặc điểm nông học của cây dưa lưới (Cucumis melo L.). Dưa lưới có hệ rễ chùm ăn nông, phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt từ 0 đến 30 cm, rễ phát triển theo chiều ngang với sức phân nhánh mạnh ở đầu chóp rễ. Cây thân thảo leo bò, lá đơn hình chân vịt 5 cạnh có lông phủ dày, hoa thụ phấn nhờ côn trùng. Quả mọng nước chứa khoảng 88% nước, cung cấp hàm lượng kali (300 mg/100g), beta-carotene, vitamin C và hợp chất chống oxy hóa polyphenol. Nghiên cứu kế thừa các kết quả thực nghiệm về giá thể hữu cơ của Ong-art và cộng sự (2020), Đoàn Xuân Cảnh và cộng sự (2020), Vũ Văn Chiến và cộng sự (2021), cùng các công trình về phân hữu cơ của Abdel Nabi và cộng sự (2014), Nguyễn Quỳnh Anh và cộng sự (2021).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (Completely Randomized Design - CRD), gồm 3 thí nghiệm đơn yếu tố với 3 lần lặp lại:
| Thí nghiệm |
Yếu tố khảo sát |
Quy mô và công thức thí nghiệm |
Phương pháp theo dõi và thu thập |
| Thí nghiệm 1 |
4 công thức giá thể phối trộn (mụn xơ dừa : cát san lấp) |
- CT1: 75% xơ dừa + 25% cát - CT2: 50% xơ dừa + 50% cát - CT3: 25% xơ dừa + 75% cát - CT4: 100% xơ dừa (đối chứng) Quy mô: 12 ô, 4 cây/ô, tổng 48 cây con. |
Trồng trong hộp Rhizobox (50 x 30 x 5 cm) mặt trước gắn mica trong. Đo chiều dài rễ hàng ngày bằng áp bìa kiếng đến 12 ngày sau gieo (NSG). Rửa sạch rễ, chụp ảnh trên khay nước đen (50 x 35 cm), xử lý hình thái rễ bằng phần mềm ImageJ 1.53e và Smart Root 4.21. |
| Thí nghiệm 2 |
3 loại phân bón hữu cơ bón lót (liều lượng 100 g/cây trên nền giá thể CT3) |
- NT1: CT3 + Phân gà vi sinh Đồng Thành Công - NT2: CT3 + Phân bò hoai Quế Lâm Phương Bắc - NT3: CT3 + Phân trùn quế nguyên chất Quy mô: 9 ô, 4 cây/ô, tổng 36 cây con. |
Theo dõi sinh trưởng rễ tương tự thí nghiệm 1 đến thời điểm 9 NSG (khi rễ chạm đáy hộp Rhizobox). Cân trọng lượng rễ tươi ngay sau rửa sạch và trọng lượng rễ khô sau khi phơi 3 ngày. |
| Thí nghiệm 3 |
4 công thức giá thể (tương tự thí nghiệm 1) đánh giá cả chu kỳ sinh trưởng |
- CT1, CT2, CT3, CT4 Khoảng cách trồng: cây cách cây 0,3 m, hàng cách hàng 1,4 m. Quy mô: 12 ô cơ sở (4,2 m²/ô), 10 cây/ô, tổng 120 cây trên diện tích 60 m². |
Đo đạc động thái thân lá định kỳ 7 ngày/lần (từ 11 NSG đến 46 NSG) trên 5 cây/ô. Đánh giá chất lượng quả (chiều dài, đường kính, độ dày thịt quả, độ Brix đo bằng khúc xạ kế cầm tay) và xác định năng suất lý thuyết, năng suất thực thu. |
Hệ thống quan trắc vi khí hậu trong nhà màng sử dụng bộ KIT vi điều khiển Arduino Uno gắn cảm biến đo nhiệt độ và độ ẩm không khí tự động lưu trữ dữ liệu 1 giờ/lần ở độ cao 2 m cách mặt đất. Toàn bộ số liệu thô được tổng hợp trên Microsoft Excel, phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng trung bình LSD ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ bằng phần mềm thống kê R.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết toàn diện các đặc tính sinh học, giá trị thương phẩm và nhu cầu sinh thái của cây dưa lưới. Nhiệt độ thích hợp cho dưa lưới dao động từ 17 đến 33°C, ẩm độ đất tối ưu từ 75 đến 80%. Tác giả phân tích tính chất của xơ dừa ép khối Growbag (EC < 0,5 mS/cm, pH từ 5,8 đến 7,0, độ ẩm 20%, hàm lượng tannin và lignin khoảng 10% cần ngâm nước xử lý 8-10 giờ trước khi sử dụng). Về cát san lấp, thành phần cơ giới chứa 35% cát, phù sa và sét dưới 15%, có ưu điểm thoát nước nhanh và giữ nhiệt ổn định. Về phân bón, chương tổng quan phân tích đặc tính dinh dưỡng của phân gà vi sinh (Hữu cơ 4,9%, N 1%, SiO₂ 12%, P₂O₅ 0,05%), phân bò hoai mục (Hữu cơ 22%, N 3%) và phân trùn quế nguyên chất. Số liệu thống kê của FAOSTAT từ năm 2018 đến 2020 về tình hình sản xuất dưa lưới thế giới cho thấy châu Á chiếm diện tích và sản lượng vượt trội (năm 2020 đạt 778,18 nghìn ha với sản lượng 21,71 triệu tấn). Đồng thời, tác giả tổng thuật các nghiên cứu trong và ngoài nước về tỷ lệ phối trộn xơ dừa, tro trấu, phân hữu cơ sinh học và dinh dưỡng khoáng cho cây dưa lưới nhà màng.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện thực nghiệm và quy trình triển khai. Nhiệt độ trung bình các tháng thí nghiệm (12/2021 đến 05/2022) dao động trong khoảng 27,3°C đến 29,5°C; ẩm độ trung bình dao động từ 67% đến 78%, hoàn toàn nằm trong ngưỡng sinh trưởng bình thường của cây dưa lưới. Giống khảo nghiệm TU3 có tỷ lệ nảy mầm 100%, tỷ lệ đậu quả đạt 98%. Quy trình bố trí thí nghiệm được chuẩn hóa: thiết kế hộp quan sát rễ Rhizobox bằng thùng xốp tái sử dụng (50 x 30 x 30 cm) cắt dọc và ghép mica trong; phương pháp số hóa hình thái rễ bằng phần mềm chuyên dụng ImageJ và Smart Root; quy trình thụ phấn bổ sung bằng tổ ong đặt trong nhà màng; quy chuẩn kỹ thuật đo chiều cao thân chính, chiều dài và chiều rộng lá thứ 1, 4, 9, 15, 22; phương pháp thu hoạch quả đúng độ chín (khi lá gần quả hóa vàng, tua cuốn khô và cuống nứt đều) và công thức tính toán năng suất lý thuyết (NSLT), năng suất thực thu (NSTT).
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm chi tiết và thảo luận cơ chế tác động qua ba thí nghiệm:
- Sinh trưởng và phát triển bộ rễ dưa lưới theo công thức giá thể (Thí nghiệm 1): Ở giai đoạn cây con 12 NSG, công thức CT3 (25% xơ dừa + 75% cát san lấp) thể hiện ưu thế vượt bậc về mọi chỉ tiêu hình thái rễ so với đối chứng CT4 (100% xơ dừa). Số rễ chính của CT3 đạt 16,25 rễ (CT4 chỉ đạt 7,08 rễ); chiều dài rễ chính dài nhất đạt 40,78 cm (CT4 đạt 20,85 cm); tổng chiều dài rễ đạt 222,98 cm (cao hơn đối chứng 136,88 cm). Tốc độ tăng trưởng rễ của CT3 ở giai đoạn 10-12 NSG duy trì ở mức cao 5,81 cm/ngày, trong khi CT4 suy giảm nghiêm trọng còn 1,20 cm/ngày. Khối lượng rễ tươi và rễ khô của CT3 đạt lần lượt 1,99 g và 0,48 g (CT4 đạt 1,90 g và 0,40 g). Sự kết hợp tỷ lệ cát cao tạo độ kết chặt vừa phải, giúp rễ chính đâm sâu và kéo dài, trong khi giá thể 100% xơ dừa khiến rễ có xu hướng phân bố cạn trên bề mặt.
| Chỉ tiêu theo dõi rễ ở 12 NSG |
CT1 (75% XD + 25% C) |
CT2 (50% XD + 50% C) |
CT3 (25% XD + 75% C) |
CT4 - ĐC (100% XD) |
| Số rễ chính (rễ) |
10,50 b |
11,42 b |
16,25 a |
7,08 c |
| Chiều dài rễ chính dài nhất (cm) |
33,65 b |
32,80 b |
40,78 a |
20,85 c |
| Tổng chiều dài rễ chính (cm) |
150,88 b |
148,91 b |
222,98 a |
86,10 c |
| Tốc độ tăng trưởng rễ 10-12 NSG (cm/ngày) |
3,40 c |
3,61 b |
5,81 a |
1,20 d |
| Trọng lượng rễ tươi (g) |
1,93 b |
1,94 b |
1,99 a |
1,90 c |
| Trọng lượng rễ khô (g) |
0,42 b |
0,43 b |
0,48 a |
0,40 c |
-
Ảnh hưởng của loại phân bón hữu cơ đến bộ rễ dưa lưới (Thí nghiệm 2): Ở giai đoạn 9 NSG, nghiệm thức NT3 (bón lót 100 g phân trùn quế trên nền CT3) đạt các chỉ số rễ cao nhất với sự sai khác có ý nghĩa thống kê so với phân gà (NT1) và phân bò (NT2). Cụ thể, NT3 đạt 16,67 rễ chính; chiều dài rễ chính dài nhất đạt 41,55 cm; tổng chiều dài rễ đạt 229,25 cm. Tốc độ tăng trưởng rễ giai đoạn 7-9 NSG của NT3 đạt 7,01 cm/ngày (vượt trội so với NT1 đạt 6,35 cm/ngày và NT2 đạt 6,58 cm/ngày). Trọng lượng rễ tươi của NT3 đạt 2,01 g và rễ khô đạt 0,54 g. Phân trùn quế cung cấp dinh dưỡng dễ tiêu và hệ vi sinh vật có lợi kích thích chóp rễ phân nhánh nhanh chóng.
-
Sinh trưởng thân lá, chất lượng và năng suất quả dưa lưới (Thí nghiệm 3):
- Thời gian sinh trưởng: Cây trồng trên công thức CT3 có thời gian ra hoa đực sớm nhất (29 ngày sau mọc mầm), ra hoa cái ở 33 ngày (sớm hơn đối chứng CT4 từ 2 đến 3 ngày). Thời gian kết thúc thu hoạch của CT3 là 81 ngày (ngắn hơn đối chứng 3 ngày; CT2 kết thúc sớm nhất ở 80 ngày).
- Động thái tăng trưởng thân lá: Chiều dài thân chính của CT3 tại 39 NSG đạt 190,87 cm (vượt trội so với CT4 đạt 159,53 cm). Số lá trên thân chính của CT3 tại 39 NSG đạt 26,40 lá (CT4 đạt 22,87 lá). Kích thước lá thứ 22 ở thời điểm 46 NSG của CT3 đạt chiều dài 21,10 cm và chiều rộng 26,46 cm, đều đạt giá trị cao nhất và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các công thức còn lại.
- Phẩm chất quả và các yếu tố cấu thành năng suất: Công thức CT3 tối ưu hóa toàn diện về hình thái và chất lượng thịt quả.
| Chỉ tiêu năng suất và chất lượng |
CT1 (75% XD + 25% C) |
CT2 (50% XD + 50% C) |
CT3 (25% XD + 75% C) |
CT4 - ĐC (100% XD) |
| Chiều dài quả (cm) |
17,74 |
17,67 |
18,77 |
17,35 |
| Đường kính quả (cm) |
14,73 |
14,84 |
16,01 |
14,81 |
| Độ dày thịt quả (cm) |
3,86 ab |
3,95 ab |
4,09 a |
3,74 b |
| Độ Brix (%) |
15,31 ab |
15,23 ab |
15,67 a |
15,02 b |
| Cân nặng trung bình quả (kg/quả) |
1,75 ab |
1,77 ab |
1,90 a |
1,70 b |
| Năng suất lý thuyết (tấn/ha) |
41,74 ab |
42,06 ab |
45,24 a |
40,47 b |
| Năng suất thực thu (tấn/ha) |
38,81 |
38,73 |
39,21 |
36,98 |
Khối lượng quả trung bình của CT3 đạt 1,90 kg/quả, cao hơn đối chứng 0,2 kg/quả. Năng suất lý thuyết của CT3 đạt 45,24 tấn/ha, sai khác có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$) so với đối chứng CT4 (40,47 tấn/ha). Năng suất thực thu giữa các công thức dao động từ 36,98 đến 39,21 tấn/ha (sai khác không có ý nghĩa thống kê do ảnh hưởng của điều kiện kỹ thuật canh tác thực tế). Về tình hình dịch hại, dưa lưới được che chắn trong nhà màng nên không bị nấm bệnh; bọ trĩ và bọ phấn trắng xuất hiện nhẹ ở cuối vụ nhưng không làm suy giảm tỷ lệ đậu quả (tỷ lệ đậu quả đạt 100%).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm chuẩn xác và những đóng góp thiết thực cho sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao:
- Xác định được công thức phối trộn giá thể tối ưu: Hỗn hợp 25% mụn xơ dừa + 75% cát san lấp (CT3) là môi trường giá thể tốt nhất cho cây dưa lưới mật TU3 trồng bầu. Công thức này giúp bộ rễ phát triển vượt trội (tổng chiều dài rễ đạt 222,98 cm, dài hơn đối chứng 136,88 cm), đẩy nhanh tiến độ nở hoa cái sớm hơn 3 ngày, gia tăng độ dày thịt quả (4,09 cm), tăng độ ngọt (Brix đạt 15,67%) và đạt năng suất lý thuyết cao nhất (45,24 tấn/ha).
- Xác định được loại phân hữu cơ bón lót tối ưu: Phân trùn quế nguyên chất (100 g/cây) thể hiện sự vượt trội về khả năng kích thích số lượng rễ chính (16,67 rễ) và tốc độ vươn dài của rễ (7,01 cm/ngày ở giai đoạn 7-9 NSG), vượt trội hơn phân gà và phân bò hoai mục.
- Đề xuất giải pháp kỹ thuật hạ giá thành sản xuất: Thay thế 75% mụn xơ dừa bằng cát san lấp giúp người sản xuất giảm đáng kể chi phí đầu tư giá thể hữu cơ đang ngày càng đắt đỏ, giải quyết bài toán tái sử dụng nguồn vật liệu địa phương sẵn có trong canh tác dưa lưới nhà màng.
- Đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu: Thiết lập thành công mô hình hộp Rhizobox cải tiến từ thùng xốp tái sử dụng kết hợp mica trong, kết nối quy trình phân tích hình thái rễ không phá hủy bằng phần mềm xử lý ảnh số ImageJ và Smart Root, cung cấp quy trình theo dõi rễ thực nghiệm trực quan cho các nghiên cứu nông học tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được tiến hành trong khuôn khổ thực nghiệm ban đầu và ghi nhận các hạn chế sau:
- Thí nghiệm phối trộn giá thể và phân bón hữu cơ theo tỷ lệ này mới chỉ được thực hiện trong một vụ canh tác (tháng 12/2021 đến tháng 05/2022) tại Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Đại học Nông Lâm TP.HCM, do đó cần thêm các vụ thử nghiệm lặp lại để khẳng định tính ổn định qua các mùa vụ khác nhau.
- Nghiên cứu chưa tiến hành phân tích định lượng thành phần và hàm lượng các nguyên tố khoáng đa lượng, trung lượng, vi lượng tồn dư hoặc được hấp thu trong từng loại giá thể, phân bón cũng như sự tích lũy dưỡng chất trong mô quả sau thu hoạch.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung: Phân tích chuyên sâu các chỉ tiêu hóa sinh của giá thể trước và sau canh tác; đánh giá sự tích lũy dinh dưỡng và chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm trong thịt quả dưa lưới; nghiên cứu khả năng xử lý và tái sử dụng hỗn hợp giá thể xơ dừa - cát san lấp cho các vụ canh tác kế tiếp.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật và Nông nghiệp Công nghệ cao: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm CRD trong nhà màng, cách thức xử lý số liệu thống kê nông học bằng phần mềm R và phương pháp phân tích ảnh số bộ rễ bằng ImageJ và Smart Root.
- Kỹ sư nông học và người sản xuất dưa lưới: Tham khảo trực tiếp công thức phối trộn giá thể 25% xơ dừa + 75% cát san lấp kết hợp phân trùn quế để áp dụng vào thực tế sản xuất nhằm tiết giảm chi phí giá thể.
- Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Bảng số liệu chi tiết về động thái tăng trưởng rễ và thân lá (Chương 3); Quy trình kỹ thuật chăm sóc dưa lưới qua từng thời kỳ và bảng nồng độ dinh dưỡng tưới nhỏ giọt tính theo ppm (Phụ lục A).
Câu hỏi thường gặp
1. Công thức phối trộn giá thể nào cho hiệu quả phát triển bộ rễ và năng suất dưa lưới tốt nhất trong nghiên cứu?
Công thức CT3 gồm 25% mụn xơ dừa + 75% cát san lấp cho hiệu quả tối ưu nhất. Ở giai đoạn 12 NSG, CT3 đạt 16,25 rễ chính, chiều dài rễ chính dài nhất 40,78 cm và tổng chiều dài rễ 222,98 cm. Đến giai đoạn thu hoạch, CT3 đạt trọng lượng quả 1,90 kg, độ Brix 15,67% và năng suất lý thuyết đạt 45,24 tấn/ha.
2. Trong ba loại phân bón hữu cơ khảo nghiệm, loại nào thúc đẩy sinh trưởng rễ cây con mạnh nhất?
Phân trùn quế nguyên chất (NT3) cho hiệu quả vượt trội so với phân gà vi sinh và phân bò hoai mục. Tại thời điểm 9 NSG, nghiệm thức bón phân trùn quế đạt 16,67 rễ chính, chiều dài rễ chính dài nhất đạt 41,55 cm, tổng chiều dài rễ đạt 229,25 cm, tốc độ tăng trưởng rễ giai đoạn 7-9 NSG đạt 7,01 cm/ngày và trọng lượng rễ tươi đạt 2,01 g.
3. Tại sao nghiệm thức đối chứng sử dụng 100% mụn xơ dừa lại cho tốc độ sinh trưởng rễ thấp ở giai đoạn sau gieo?
Trong giai đoạn 10-12 NSG, tốc độ tăng trưởng rễ của công thức 100% xơ dừa giảm xuống chỉ còn 1,20 cm/ngày (so với 5,81 cm/ngày của CT3). Tác giả chỉ ra rằng giá thể chứa tỷ lệ xơ dừa quá cao (>50%) khiến rễ dưa lưới có xu hướng tập trung phát triển phân nhánh nông ở bề mặt thay vì đâm sâu, làm giảm tốc độ kéo dài rễ chính so với môi trường có bổ sung cát san lấp.
4. Dữ liệu vi khí hậu trong nhà màng được tác giả thu thập bằng phương tiện gì và có thông số như thế nào?
Điều kiện thời tiết được đo đạc tự động bằng bộ KIT vi điều khiển Arduino Uno gắn cảm biến đặt giữa nhà màng ở độ cao 2 m, lưu dữ liệu định kỳ 1 giờ/lần từ tháng 12/2021 đến tháng 05/2022. Kết quả ghi nhận nhiệt độ trung bình dao động từ 27,3°C đến 29,5°C và ẩm độ trung bình dao động từ 67% đến 78%, nằm trong ngưỡng sinh thái phù hợp cho dưa lưới.
5. Sự khác biệt giữa năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của công thức tối ưu CT3 là bao nhiêu?
Công thức CT3 đạt năng suất lý thuyết là 45,24 tấn/ha (khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng CT4 đạt 40,47 tấn/ha). Tuy nhiên, năng suất thực thu của CT3 đạt 39,21 tấn/ha (dao động các công thức từ 36,98 đến 39,21 tấn/ha), sự sai khác về năng suất thực thu giữa các công thức không có ý nghĩa thống kê do ảnh hưởng của các điều kiện kỹ thuật và môi trường thực tế trong quá trình nuôi quả.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Khương Thị Mỹ Linh (2022) đã xác định được công thức phối trộn giá thể 25% mụn xơ dừa + 75% cát san lấp kết hợp bón lót phân trùn quế là giải pháp kỹ thuật tối ưu cho cây dưa lưới mật TU3 trồng bầu trong nhà màng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả thực nghiệm khẳng định tỷ lệ phối trộn này thúc đẩy vượt bậc sự phát triển chiều dài và mật độ của bộ rễ, đẩy sớm thời gian nở hoa, nâng cao chất lượng thịt quả và đạt năng suất lý thuyết 45,24 tấn/ha. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho việc tận dụng cát san lấp giá rẻ để thay thế xơ dừa truyền thống, đồng thời đóng góp phương pháp luận chuẩn xác trong việc ứng dụng công nghệ số và phần mềm ImageJ để theo dõi hình thái rễ cây trồng.