Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là một trong năm loại cây trồng chính quan trọng trên thế giới và là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị kinh tế cao tại Việt Nam. Về mặt thành phần dinh dưỡng, hạt đậu tương chứa khoảng 40–50% protein, 18–25% lipid và 36–40% carbohydrate, cung cấp nguồn đạm thực vật dễ tiêu hóa. Bên cạnh giá trị thương phẩm, cây họ đậu có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần để cố định nitơ tự do trong không khí, bổ sung vào đất từ 60–80 kg N/ha sau mỗi vụ trồng (tương đương 300–400 kg đạm sunphat), góp phần cải tạo độ phì nhiêu và thuận lợi cho việc bố trí trong các hệ thống luân canh, xen canh.
Mặc dù có nhiều ưu thế nông học, diện tích canh tác đậu tương tại Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng đang có chiều hướng sụt giảm rõ rệt. Theo số liệu thống kê tại tỉnh Thái Nguyên, diện tích gieo trồng đậu tương năm 2012 đạt 1.196 ha nhưng đến năm 2016 đã giảm 256 ha, chỉ còn 940 ha. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm này là do năng suất và hiệu quả kinh tế chưa cao; tập quán canh tác của nông dân còn lạm dụng phân bón vô cơ, bón mất cân đối, ít sử dụng phân hữu cơ làm cho đất canh tác bị chua hóa, chai cứng và suy giảm mật độ vi sinh vật có ích.
Giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm) chọn tạo từ tổ hợp lai giữa LS17 x DT2001, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất thử theo Quyết định số 218/QĐ-TT-CCN ngày 15 tháng 6 năm 2012. Giống ĐT51 có khả năng chống đổ khá, nhiễm nhẹ đến trung bình các bệnh hại chính, thích ứng trên nhiều chân đất và có đặc tính chống chịu úng ngập trong 4–5 ngày mà lá vẫn xanh, rễ không bị thối. Để khai thác tiềm năng của giống và hoàn thiện quy trình canh tác bền vững, đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ sinh học đã được triển khai.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Nhằm tìm ra loại phân bón hữu cơ sinh học dùng bón lót có ảnh hưởng tốt nhất đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu 2017 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của giống đậu tương ĐT51 ở các loại phân bón hữu cơ khác nhau.
- Đánh giá một số đặc điểm sinh lý của giống đậu tương ĐT51 ở các loại phân bón hữu cơ khác nhau.
- Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 ở các loại phân bón hữu cơ khác nhau.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 ở các loại phân bón hữu cơ khác nhau.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Giống đậu tương ĐT51.
- Vật liệu nghiên cứu: Phân chuồng (đối chứng), phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, phân hữu cơ sinh học Quế Lâm, phân hữu cơ sinh học NTT.
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Vụ Hè Thu năm 2017 (từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017; ngày gieo hạt là 01/8/2017).
Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên đặc tính sinh học của bộ rễ cây đậu tương phát triển mạnh ở tầng đất 30–50 cm và quan hệ cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium japonicum để tổng hợp đạm tự nhiên (cung cấp tới 60% tổng nhu cầu đạm của cây). Việc bón phân hữu cơ cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và chất mùn, giúp đất tơi xốp, giữ ẩm, thoáng khí, kích thích sự hoạt động của vi sinh vật nốt sần và làm tăng hiệu lực sử dụng của phân khoáng vô cơ. Ngược lại, thực tiễn lạm dụng phân hóa học đơn thuần (đặc biệt là phân đạm urê bón vãi trên mặt) làm phá hủy cấu trúc keo mùn, gây ngợp rễ và làm thoái hóa đất.
Phương pháp bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại.
- Thí nghiệm gồm 4 công thức bón lót:
- CT1 (Đối chứng): Bón phân chuồng liều lượng 5.000 kg/ha.
- CT2: Bón phân hữu cơ sinh học Sông Gianh liều lượng 1.000 kg/ha.
- CT3: Bón phân hữu cơ sinh học Quế Lâm liều lượng 1.000 kg/ha.
- CT4: Bón phân hữu cơ sinh học NTT liều lượng 1.000 kg/ha.
- Quy mô ô thí nghiệm: Diện tích mỗi ô là 8,5 m² (kích thước 5 m x 1,7 m); mặt luống rộng 1,4 m, rạch 4 hàng dọc với khoảng cách hàng cách hàng 0,35 m; rãnh luống rộng 0,3 m. Khoảng cách giữa các lần nhắc lại là 0,3 m. Bố trí dải luống bảo vệ xung quanh khu thí nghiệm.
- Mật độ gieo trồng: 30 cây/m², khoảng cách giữa các cây trên hàng là 9,5 cm.
- Nền phân vô cơ bón bổ sung thống nhất cho tất cả các công thức: 30 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha.
- Phương pháp bón: Bón lót 100% lượng phân hữu cơ/phân chuồng + 100% P2O5 + 50% K2O. Bón thúc 100% N + 50% K2O kết hợp xới cỏ, vun gốc lần 1 khi cây có 3 lá thật; vun gốc lần 2 khi cây đạt 5–6 lá thật.
Phương pháp theo dõi và quy chuẩn áp dụng:
- Các chỉ tiêu theo dõi thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-58:2011/BNNPTNT về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu tương.
- Chỉ tiêu nông sinh học: Thời gian qua các giai đoạn phát triển (gieo, mọc, phân cành, ra hoa, chắc xanh, chín); động thái tăng trưởng chiều cao cây qua 4 giai đoạn; đường kính thân; số cành cấp 1 và số đốt trên thân chính (đo đếm trên 10 cây mẫu ngẫu nhiên/ô).
- Chỉ tiêu sinh lý: Chỉ số diện tích lá (CSDTL, m² lá/m² đất) xác định tại thời kỳ hoa rộ và chắc xanh theo phương pháp cân đĩa đục lỗ; khả năng tích lũy vật chất khô (KNTLVCK, g/cây và tỷ lệ % chất khô); số lượng (nốt/cây) và khối lượng nốt sần (g/cây) ở thời kỳ hoa rộ và chắc xanh.
- Điều tra sâu bệnh hại và khả năng chống đổ: Điều tra sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) và sâu đục quả (Etiella zinckenella Treitschke) theo phương pháp 5 điểm chéo góc; bệnh gỉ sắt (Phakopsora sojae) đánh giá theo thang điểm 1–9; khả năng chống đổ đánh giá theo thang điểm 1–5 trước khi thu hoạch.
- Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Đếm số quả chắc/cây, số hạt chắc/quả, cân khối lượng 1000 hạt (M1000 hạt), xác định năng suất lý thuyết (NSLT) và năng suất thực thu (NSTT) quy đổi ra tạ/ha.
- Xử lý số liệu: Số liệu được tính toán và xử lý phương sai bằng phần mềm Excel và IRRISTAT 5.0 để so sánh sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95% (LSD0.05).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu tập trung luận giải tính cấp thiết của việc phát triển cây đậu tương như một nguồn cung cấp protein thực vật và cải tạo độ phì nhiêu đất thông qua vi sinh vật cố định đạm. Tác giả nêu rõ thực trạng sụt giảm diện tích đậu tương tại tỉnh Thái Nguyên từ 1.196 ha (năm 2012) xuống 940 ha (năm 2016), đồng thời giới thiệu đặc tính nông học của giống đậu tương ĐT51 (nguồn gốc lai LS17 x DT2001). Từ đó, xác định mục đích, 4 yêu cầu nhiệm vụ, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của việc đánh giá các loại phân bón hữu cơ sinh học phục vụ sản xuất tại huyện Võ Nhai.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở khoa học và thực tiễn về dinh dưỡng khoáng và hữu cơ đối với cây họ đậu.
- Về sản xuất và nghiên cứu thế giới: Tổng kết diện tích đậu tương toàn cầu giai đoạn 2012–2016 tăng từ 105,37 lên 121,53 triệu ha, sản lượng tăng từ 241,58 lên 334,89 triệu tấn (với 4 quốc gia dẫn đầu là Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc chiếm 90–95% sản lượng). Nêu bật các chương trình nghiên cứu giống của AVRDC, INTSOY, IITA và các nghiên cứu về phân bón lân, mật độ gieo trồng của Dickson (1987), Cober (2005).
- Về sản xuất và nghiên cứu tại Việt Nam: Diện tích đậu tương cả nước giảm từ 119,61 nghìn ha (2012) xuống 99,58 nghìn ha (2016). Điểm lại các công trình chọn tạo giống (ĐT12, ĐT2000, ĐT84, VX92) và nghiên cứu kỹ thuật bón phân cân đối N:P:K (tỷ lệ 1:2:2 theo Trần Thị Thường, Trần Thanh Bình; vai trò phân lân của Nguyễn Văn Bộ, Vũ Đình Chính).
- Về sản xuất tại Thái Nguyên: Diện tích canh tác giảm liên tục từ 1.811 ha (2011) xuống 940 ha (2016), sản lượng giảm từ 2.669 tấn xuống 1.476 tấn. Phân tích vai trò của phân hữu cơ trong việc kích thích hệ vi sinh vật đất và hình thành nốt sần rễ.
Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp thực hiện
Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu (giống ĐT51), các vật liệu phân bón (phân chuồng, phân hữu cơ sinh học Sông Gianh, Quế Lâm, NTT), địa điểm (xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai) và thời gian thực hiện (tháng 8–12/2017). Mô tả quy chuẩn thiết kế thí nghiệm RCBD với 4 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích ô 8,5 m², mật độ 30 cây/m², nền phân vô cơ (30N + 60P2O5 + 60K2O kg/ha). Quy định chi tiết các bước làm đất, bón lót, bón thúc, vun gốc 2 lần, tưới tiêu và hệ thống phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nông sinh học, sinh lý, sâu bệnh và năng suất theo QCVN 01-58:2011/BNNPTNT cùng công cụ thống kê IRRISTAT 5.0.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả trình bày chi tiết các dữ liệu thực nghiệm thu thập được qua 6 nội dung đánh giá:
- Thời gian sinh trưởng: Thời gian sinh trưởng (TGST) của giống ĐT51 dao động từ 94 đến 96 ngày giữa các công thức (mọc: 5–6 ngày; phân cành: 28–30 ngày; ra hoa: 36–38 ngày; chắc xanh: 62–64 ngày; chín: 94–96 ngày). Sự chênh lệch giữa các loại phân bón chỉ từ 1–2 ngày, không có sự khác biệt lớn.
- Đặc điểm hình thái: Chiều cao cây lúc chín đạt từ 62,90 đến 68,20 cm; số cành cấp 1 đạt từ 3,13 đến 3,90 cành; số đốt trên thân chính đạt từ 13,70 đến 14,17 đốt; đường kính thân đạt từ 0,60 đến 0,69 mm. Tất cả các chỉ tiêu hình thái đều có sai khác không có ý nghĩa thống kê giữa các công thức phân bón (P > 0,05).
- Chỉ tiêu sinh lý: Chỉ số diện tích lá (CSDTL) thời kỳ hoa rộ đạt 4,04–4,59 m²/m² đất và thời kỳ chắc xanh đạt 4,75–5,42 m²/m² đất (P > 0,05). Khối lượng chất khô tích lũy ở thời kỳ chắc xanh đạt từ 24,49 đến 31,16 g/cây. Riêng tỷ lệ chất khô ở thời kỳ chắc xanh có sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức 95% (P < 0,05; LSD0.05 = 3,22), trong đó CT3 (phân Quế Lâm) đạt cao nhất với 22,47%.
- Khả năng hình thành nốt sần: Các loại phân bón hữu cơ sinh học kích thích hình thành nốt sần vượt trội so với phân chuồng đối chứng (P < 0,05). Ở thời kỳ hoa rộ, CT4 (phân NTT) đạt số lượng nốt sần cao nhất là 30,00 nốt/cây (khối lượng 0,39 g/cây), trong khi đối chứng CT1 chỉ đạt 14,67 nốt/cây (khối lượng 0,15 g/cây). Đến thời kỳ chắc xanh, số lượng nốt sần của CT4 đạt 41,78 nốt/cây, cao nhất trong các công thức (CT1 đạt 30,22 nốt/cây; CT2 đạt 30,11 nốt/cây; CT3 đạt 33,44 nốt/cây).
- Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống đổ: Tỷ lệ hại của sâu cuốn lá dao động từ 6,99% đến 8,67%; sâu đục quả từ 5,07% đến 7,45% (P > 0,05). Bệnh gỉ sắt xuất hiện ở mức độ rất nhẹ (điểm 1). Khả năng chống đổ của giống đạt điểm 2 ở CT1, CT3, CT4 và điểm 3 ở CT2 (do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết mưa bão bất thuận).
- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: Số quả chắc/cây dao động từ 33,53 đến 36,43 quả; số hạt chắc/quả từ 2,31 đến 2,40 hạt; khối lượng 1000 hạt từ 168,43 đến 182,47 g; năng suất lý thuyết đạt từ 40,63 đến 45,80 tạ/ha; năng suất thực thu dao động từ 23,53 đến 25,03 tạ/ha (CT1 đạt 23,53 tạ/ha; CT2 đạt 24,04 tạ/ha; CT3 đạt 24,11 tạ/ha; CT4 đạt 25,03 tạ/ha). Sự sai khác về các chỉ tiêu năng suất giữa 4 công thức phân bón không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đúc kết các phát hiện chính: Thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái, sâu bệnh hại và năng suất thực thu của giống ĐT51 không có sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê giữa việc bón lót bằng phân chuồng hay phân hữu cơ sinh học. Tác giả đề nghị tiếp tục nghiên cứu lặp lại trong 1–2 vụ tiếp theo để kiểm chứng độ ổn định năng suất và phản ứng chống chịu sâu bệnh trước biến động thời tiết.
Kết quả và đóng góp
Kết quả thực nghiệm của khóa luận được thể hiện qua các bảng số liệu so sánh giữa 4 công thức phân bón:
| Chỉ tiêu theo dõi |
CT1 (Đối chứng: Phân chuồng) |
CT2 (Hữu cơ sinh học Sông Gianh) |
CT3 (Hữu cơ sinh học Quế Lâm) |
CT4 (Hữu cơ sinh học NTT) |
Mức ý nghĩa (P) |
LSD0.05 |
| Thời gian sinh trưởng (ngày) |
96 |
95 |
95 |
94 |
- |
- |
| Chiều cao cây lúc chín (cm) |
68,20 |
62,90 |
64,47 |
63,67 |
> 0,05 |
- |
| Số cành cấp 1 (cành/cây) |
3,17 |
3,60 |
3,90 |
3,13 |
> 0,05 |
- |
| Số đốt trên thân chính (đốt) |
14,07 |
13,73 |
14,17 |
13,70 |
> 0,05 |
- |
| CSDTL hoa rộ (m² lá/m² đất) |
4,57 |
4,59 |
4,24 |
4,04 |
> 0,05 |
- |
| CSDTL chắc xanh (m² lá/m² đất) |
5,18 |
5,08 |
4,75 |
5,42 |
> 0,05 |
- |
| Tỷ lệ chất khô chắc xanh (%) |
18,64 |
17,76 |
22,47 |
18,65 |
< 0,05 |
3,22 |
| Số nốt sần hoa rộ (nốt/cây) |
14,67 |
21,78 |
24,22 |
30,00 |
< 0,05 |
3,26 |
| Khối lượng nốt sần hoa rộ (g/cây) |
0,15 |
0,26 |
0,29 |
0,39 |
< 0,05 |
0,07 |
| Số nốt sần chắc xanh (nốt/cây) |
30,22 |
30,11 |
33,44 |
41,78 |
< 0,05 |
5,61 |
| Khối lượng nốt sần chắc xanh (g/cây) |
1,62 |
1,53 |
1,55 |
1,70 |
> 0,05 |
- |
Số liệu về tình hình sâu bệnh hại, khả năng chống đổ và năng suất được tổng hợp như sau:
| Chỉ tiêu đánh giá |
CT1 (Phân chuồng) |
CT2 (Sông Gianh) |
CT3 (Quế Lâm) |
CT4 (NTT) |
Mức ý nghĩa (P) |
CV (%) |
| Tỷ lệ hại của sâu cuốn lá (%) |
8,67 |
6,99 |
7,10 |
8,05 |
> 0,05 |
17,60 |
| Tỷ lệ hại của sâu đục quả (%) |
7,45 |
7,08 |
7,10 |
5,07 |
> 0,05 |
20,07 |
| Bệnh gỉ sắt (thang điểm 1–9) |
1 |
1 |
1 |
1 |
- |
- |
| Khả năng chống đổ (thang điểm 1–5) |
2 |
3 |
2 |
2 |
- |
- |
| Số quả chắc/cây (quả) |
34,53 |
33,53 |
33,97 |
36,43 |
> 0,05 |
10,60 |
| Số hạt chắc/quả (hạt) |
2,35 |
2,40 |
2,33 |
2,31 |
> 0,05 |
4,30 |
| Khối lượng 1000 hạt (g) |
172,47 |
168,43 |
172,73 |
182,47 |
> 0,05 |
4,00 |
| Năng suất lý thuyết (tạ/ha) |
42,00 |
40,63 |
40,99 |
45,80 |
> 0,05 |
10,40 |
| Năng suất thực thu (tạ/ha) |
23,53 |
24,04 |
24,11 |
25,03 |
> 0,05 |
5,60 |
Đóng góp và giải pháp đề xuất của tác giả:
- Về mặt kỹ thuật: Chứng minh việc bón lót phân hữu cơ sinh học liều lượng 1.000 kg/ha (đặc biệt là phân NTT và Quế Lâm) hoàn toàn có thể thay thế phân chuồng truyền thống liều lượng 5.000 kg/ha mà vẫn đảm bảo sinh trưởng, tăng khả năng hình thành nốt sần cố định đạm và đạt năng suất thực thu tương đương (24,04–25,03 tạ/ha so với 23,53 tạ/ha của đối chứng).
- Về mặt thực tiễn: Giúp giải quyết khó khăn về nguồn phân chuồng khan hiếm và công lao động vận chuyển lớn trong canh tác đậu tương tại vùng đồi núi huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh giống đậu tương mới ĐT51.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Thí nghiệm mới chỉ được tiến hành trong phạm vi một vụ gieo trồng duy nhất (vụ Hè Thu năm 2017) tại một địa điểm (xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai).
- Điều kiện thời tiết trong vụ thí nghiệm có nhiều diễn biến phức tạp, mưa bão bất thường đã ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu chống đổ của cây (công thức CT2 bị đổ ở mức điểm 3 với tỷ lệ cây đổ > 25%).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục thực hiện thí nghiệm lặp lại trong 1–2 vụ tiếp theo trên địa bàn để có kết luận chuẩn xác và toàn diện hơn về tính ổn định của sinh trưởng và tiềm năng năng suất.
- Bố trí các nghiên cứu mở rộng về tương tác giữa phân bón với mật độ gieo trồng, thời vụ và khả năng nâng cao tính chống chịu sâu bệnh hại của giống đậu tương ĐT51.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Nông học, Trồng trọt, Khoa học cây trồng, Đất và Dinh dưỡng cây trồng tại các trường đại học, viện nghiên cứu nông nghiệp.
- Cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp tại các địa phương trung du miền núi phía Bắc đang tìm kiếm giải pháp phân bón thay thế phân chuồng trong canh tác cây họ đậu.
Nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao:
- Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng và hệ thống chỉ tiêu đánh giá nông sinh học, sinh lý (CSDTL, KNTLVCK, nốt sần rễ) theo đúng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-58:2011/BNNPTNT.
- Dữ liệu thực nghiệm về phản ứng của giống đậu tương ĐT51 đối với ba thương hiệu phân hữu cơ sinh học thương phẩm (Sông Gianh, Quế Lâm, NTT).
Câu hỏi thường gặp
-
Giống đậu tương ĐT51 có nguồn gốc từ đâu và được công nhận như thế nào?
Giống ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ thuộc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc từ tổ hợp lai giữa LS17 x DT2001. Giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận tạm thời năm 2011 và cho phép sản xuất thử theo Quyết định số 218/QĐ-TT-CCN ngày 15 tháng 6 năm 2012.
-
Liều lượng bón của các công thức phân bón trong thí nghiệm được quy định cụ thể như thế nào?
Thí nghiệm áp dụng liều lượng bón lót phân hữu cơ gồm: CT1 (đối chứng) bón 5.000 kg phân chuồng/ha; CT2 bón 1.000 kg phân hữu cơ sinh học Sông Gianh/ha; CT3 bón 1.000 kg phân hữu cơ sinh học Quế Lâm/ha; CT4 bón 1.000 kg phân hữu cơ sinh học NTT/ha. Nền phân vô cơ chung cho cả 4 công thức là 30 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha.
-
Loại phân bón nào kích thích khả năng hình thành nốt sần tốt nhất trên giống ĐT51?
Phân hữu cơ sinh học NTT (CT4) kích thích hình thành nốt sần tốt nhất. Ở thời kỳ hoa rộ, CT4 đạt 30,00 nốt/cây (khối lượng 0,39 g/cây), cao hơn rõ rệt so với đối chứng phân chuồng chỉ đạt 14,67 nốt/cây (khối lượng 0,15 g/cây). Đến thời kỳ chắc xanh, CT4 tiếp tục dẫn đầu với 41,78 nốt/cây (P < 0,05).
-
Năng suất thực thu giữa việc bón phân chuồng và phân hữu cơ sinh học có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê hay không?
Không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Năng suất thực thu của các công thức dao động từ 23,53 đến 25,03 tạ/ha (CT1 đạt 23,53 tạ/ha; CT2 đạt 24,04 tạ/ha; CT3 đạt 24,11 tạ/ha; CT4 đạt 25,03 tạ/ha), chứng minh phân hữu cơ sinh học có thể thay thế tốt cho phân chuồng.
-
Các loại sâu bệnh hại chính xuất hiện trong thí nghiệm là gì và mức độ gây hại ra sao?
Sâu bệnh hại chính gồm sâu cuốn lá (Lamprosema indicata, tỷ lệ hại 6,99–8,67%), sâu đục quả (Etiella zinckenella, tỷ lệ hại 5,07–7,45%) và bệnh gỉ sắt (Phakopsora sojae xuất hiện nhẹ ở mức điểm 1). Mức độ gây hại giữa các công thức phân bón là tương đương nhau và không có sự sai khác thống kê.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Thúy đã cung cấp những dẫn liệu thực nghiệm xác thực về việc ứng dụng phân bón hữu cơ sinh học trong canh tác giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả khẳng định việc bón lót 1.000 kg/ha phân hữu cơ sinh học (đặc biệt là dòng phân NTT và Quế Lâm) mang lại hiệu quả tương đương phân chuồng 5.000 kg/ha về sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất thực thu (đạt 23,53–25,03 tạ/ha), đồng thời làm tăng rõ rệt số lượng nốt sần cố định đạm của cây. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng giúp địa phương hoàn thiện quy trình canh tác thâm canh đậu tương, giảm chi phí vận chuyển phân chuồng và hướng tới nền nông nghiệp bền vững.