Đặt vấn đề Dưa lê (Cucumis melo L.) là một trong số các cây rau ăn quả thuộc họ Bầu bí có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Những năm gần đây, dưa lê là sản phẩm rau ăn quả cho hiệu quả kinh tế rất cao ở nhiều vùng sản xuất, đặc biệt dưa lê góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú cho trái cây mùa hè. Do mang lại hiệu quả kinh tế cao nên dưa lê được trồng rộng rãi trên nhiều tỉnh thành của cả nước, trong đó các tỉnh phía Bắc có diện tích và sản lượng dưa lê lớn như: Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hưng Yên, Bắc Ninh. Tuy nhiên, sản lượng dưa các loại bao gồm cả dưa lê sản xuất trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ rất lớn của người tiêu dùng, do vậy các sản phẩm dưa vẫn được nhập khẩu tràn lan không rõ nguồn gốc, xuất xứ từ các nước khác.
Nguyên nhân chủ yếu là quá trình sản xuất trong nước thiếu bộ giống tốt, thích nghi cho từng vùng sinh thái khác nhau. Các giống dưa hiện đang trồng ngoài sản xuất chủ yếu là các giống dưa địa phương như dưa lê Hà Nội, dưa lê vàng Hải Dương. Các giống dưa lê địa phương năng suất thấp, thịt quả mỏng, quả mềm, chất lượng chưa cao. Ngược lại, các giống dưa nhập từ nước ngoài về sẽ cho quả ngon, năng suất, chất lượng tốt khắc phục được những nhược điểm của các giống địa phương.
Trong đó, giống dưa lê HP6 là giống dưa có nhiều ưu điểm vượt trội như mẫu mã đẹp, hàm lượng dinh dưỡng cao, quả ngọt mát. Đây là giống dưa rất phù hợp với khí hậu của Việt Nam nên có thể trồng được quanh năm, 1 năm trồng được 3 vụ và mỗi vụ kéo dài hơn 3 tháng. Bên cạnh đó, hàm lượng chất dinh dưỡng, cách bón phân chưa đúng định mức gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng. 2 Phân trùn quế là loại phân được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi trong canh tác nông nghiệp hiện nay với nhiều lợi ích khác nhau về mặt dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng.
Bên cạnh đó, phân trùn quế còn là loại phân không chứa bất kỳ các chất gây hại nào cho cây trồng, môi trường tự nhiên như: kim loại nặng (chì, thủy ngân, asen, …) mầm bệnh, vi khuẩn gây hại, … Ngày nay việc giảm thiểu tỷ lệ sử dụng phân bón hóa học, tăng cường việc sử dụng các loại phân bón có nguồn gốc vi sinh đang rất được các nhà khoa học quan tâm. Đối với người tiêu dùng hiện nay sản phẩm sạch là mối quan tâm hàng đầu. Để giải quyết vấn đề trên thì sử dụng phân trùn quế là một giải pháp có thể tạo ra bước đột phá trong nền nông nghiệp sạch. Tuy nhiên, để có năng suất, chất lượng cây trồng tốt nhất cần xác định hàm lượng phân bón phù hợp.
Vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân trùn quế đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống dưa lê HP6 tại trường Đại học Nông Lâm trong vụ Xuân 2022” là hết sức cần thiết, nhằm xác định được lượng phân bón phù hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây dưa lê.Mục đích nghiên cứu - Xác định được lượng phân trùn quế phù hợp cho sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống dưa lê HP6 trồng trong nhà màng. Yêu cầu - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân trùn quế đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống dưa lê HP6 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế phục vụ cho việc chăm sóc giống dưa lê HP6 nói riêng và các loại cây trồng khác nói chung.
3 - Ứng dụng và thực hành những kiến thức lý thuyết đã học vào trong nghiên cứu. - Tạo cơ hội cho sinh viên hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã được học về trồng trọt, đồng thời bổ sung thêm những kiến thức thực hành thực tế giúp tăng thêm kinh nghiệm trong sản xuất thực tiễn. - Tạo tiền đề cho các nghiên cứu khoa học sau này về phân trùn quế và giống dưa lê HP6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Xác định được lượng phân trùn quế tốt nhất để đưa vào sản xuất thực tiễn góp phần nâng cao năng suất, chất lượng giống dưa lê HP6 cho bà con nông dân từ đó giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Phân trùn quế hay còn được hiểu là sâu ủ phân, chúng sẽ chế biến phế liệu nhà bếp như vỏ củ quả, … và các chất thải xanh khác thành một hỗn hợp đậm đặc, sẫm màu, có mùi đất và được biến đổi hoàn toàn so với ban đầu. Loại phân này được làm từ bột trùn gần như nguyên chất, nó là một loại phân siêu trộn. Không chỉ giàu chất dinh dưỡng mà phân trùn quế còn chứa nhiều vi sinh vật giúp tái tạo và duy trì đất khỏe mạnh.
Trường Đại học Clemson đã liệt kê những lợi ích sau của phân trùn quế trong bài viết về ủ trùn quế (clemson.edu): - Cung cấp chất dinh dưỡng cho đất - Tăng khả năng giữ chất dinh dưỡng của đất ở dạng cây trồng sẵn có cải thiện cấu trúc đất. - Cải thiện sự thông khí và thoát nước bên trong của đất sét nặng, tăng khả năng giữ nước của đất cát - Cung cấp nhiều vi khuẩn có lợi - Trong thực tế, phân trùn quế thường được sử dụng như một loại phân bón thúc hoặc bón phụ cho những cây trồng cần thiết và yêu cầu hàm lượng dinh dưỡng cao vì loại phân này hiện nay chưa được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên với hàm lượng chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng trong phân cao như: đạm 1,57%, lân hữu hiệu 1,24%, kali hữu hiệu 0,67%, canxi 2,14%, magiê 0,52%. Ngoài ra, phân trùn quế có hệ vi sinh vật dồi dào, phong phú như: VSV cố định đạm với hàm lượng 4,2×107 CFU/g, VSV phân giải lân 2,6×106 CFU/g và VSV phân giải cellulose hàm lượng 2,0×107 CFU/g và không chứa hàm lượng các chất kim loại nặng.
Từ đó, có thể thấy ảnh hưởng 5 của phân trùn quế đến khả năng sinh trưởng, phát triển của cây trồng là rất lớn. Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, tính từ năm 1985 tới năm 2009, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7%, nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới 517%. Theo tính toán, lượng phân vô cơ sử dụng tăng mạnh trong vòng 20 năm (từ 1985 tới 2009), tổng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N+P2O5+K2O năm 2007 đạt trên 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với lượng sử dụng của năm 1985.Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng phân bón hóa học còn rất thấp, 45-50%; phân lân 20-30% (tính hiệu lực trực tiếp, chưa tính hiệu lực cộng dồn hay hiệu lực tồn tại); khoảng 60% với phân kali. Hàng năm, một khối lượng lớn phân bón vào đất nhưng không được cây trồng sử dụng, gây lãng phí: urê 1,8 triệu tấn, supe lân 2,07 triệu tấn, kali 344 nghìn tấn Nguyễn Văn Bộ (2014).Những chất dư thừa trong phân bón này sẽ được thải ra môi trường bên ngoài gây ô nhiễm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống con người.
Vì vậy, việc nghiên cứu các loại phân vi sinh áp dụng vào sản xuất thực tiễn giúp giảm tỷ lệ sử dụng phân bón hóa học nâng cao năng suất cây trồng là rất cần thiết. Từ cơ sở đó nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân trùn quế đến sự sinh trưởng, phát triển của cây dưa lê HP6 là rất cần thiết trong tình hình hiện nay. Nguồn gốc, phân loại dưa lê * Nguồn gốc: Dưa lê thuộc nhóm dưa thơm Cucumis melo L. là một loại cây trồng nông nghiệp quan trọng được trồng rộng rãi trên thế giới.
Dưa lê được cho là được biết đến từ thời kỳ La Mã và được nhập khẩu từ Ba Tư theo tư liệu của các tác phẩm cổ đại tại Trung Quốc từ khoảng năm 2000 TCN (Walters, 1989) và các văn bản Hy Lạp, La Mã từ thế kỷ thứ nhất 6 trước Công nguyên (Pangalo, 1929). Hay tại châu Âu, dưa lê được cho rằng xuất hiện từ thế kỷ thứ 13 từ trong hành lý của du khách (Stepansky et al. Theo Milind and Kulwant (2011) dưa lê lần đầu tiên được khám phá bởi Linné vào năm 1753. Nó là một chi trong họ bầu bí gồm 118 chi và 825 loài.
Nguồn gốc của loại quả này vẫn đang được tranh cãi rất nhiều tuy nhiên những nghiên cứu gần đây chỉ ra rõ ràng nguồn gốc của dưa lê là ở phía nam và phía đông châu Phi. Dưa lê đã có thể được trồng ở Trung Quốc từ 2000 năm trước Công nguyên. Một vài dạng cây trồng và cây hoang dại đã phát triển trên toàn thế giới ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hiện nay, tại nhiều nước trên thế giới loại cây này đã được trồng phổ biến nhiều.
* Phân loại: + Bộ bầu bí Cucurbitales + Chi Cucumis + Loài Cucumis melo L. Dưa lê là một loại quả được tiến hành phân loại trên các quan điểm khác nhau bởi nhiều tác giả trên thế giới. Theo quan điểm của các nhà khoa học, dưa lê được chia thành 7 nhóm. Theo Munger và Robinson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1859), Grebenscikove (1953), Pangalo (1929), Hammer và cộng sự (1986).
Agrestis: là giống các cây có thân mảnh, lá cây cùng gốc và thuộc dạng đơn tính, đều có hoa đực và hoa cái trên cùng một thân, các cây thuộc trong nhóm này thường được có xu hướng phát triển như cỏ dại ở châu Phi và các nước châu Á. Quả có chiều dài nhỏ hơn 5cm và thường không ăn được do cùi rất mỏng và hạt rất nhỏ. Cantalupensis: là những cây trồng có quả kích thước thuộc dạng trung bình lớn, bóng, mịn, màu sắc vỏ biến động có vảy hoặc vân. 7 Khi chín quả sẽ có vị ngọt và mùi thơm.
Các cây trong nhóm này hoa đơn tính đực và lưỡng tính ở hầu hết các kiểu gen, ở bầu nhụy hoa sẽ có lông. Inodorus: Các cây trong nhóm này bao gồm các loại dưa ngọt ở châu Á và Tây Ban Nha như giống dưa ruột xanh và dưa vàng, thường là các loại đơn tính và lưỡng tính, ở bầu nhụy hoa sẽ có lông. Flexuosus: là nhóm các cây có hình dạng quả dài, khi ăn thường không có vị ngọt, ăn non như dưa chuột. Giống cây này thường được tìm thấy ở Trung Đông và châu Á, các cây thường có hoa đơn tính cùng gốc.